Câu chuyện Quan Âm Thị Kính
Chuyển
hóa sự bất công : Câu chuyện Quan Âm Thị Kính
Transcending
Injustice: The Tale of Quan Am Thi Kinh
( Dựa theo bài thuyết
pháp của Hòa thượng Thích Nhất Hạnh. Bài viết có sửa văn phong, ngữ
cảnh cho phù hợp với thời điểm đối tượng đọc. Mong Hòa thượng hoan hỉ )
Ngày xưa, có một cô bé
tên là Kinh, sinh ra ở miền Bắc, Việt Nam .
Cha mẹ cô bé rất muốn có con trai, nhưng họ lại sinh một bé gái, dù vậy họ vẫn hạnh phúc và họ
đặt tên bé gái là Kính. Kinh có nghĩa là "sự tôn trọng, tôn
kính." Đó là một cái tên rất hay. Bạn tôn trọng mọi người, bạn tôn trọng
con vật, bạn tôn trọng cuộc sống bao gồm cả cỏ cây và đất đá. Sự tôn kính.
Tôn kính cuộc sống, cho những gì đang có
bên trong bạn và xung quanh bạn. Kinh là một
đứa trẻ dễ thương. Lúc còn là một cô gái nhỏ, cô đẹp, giống một bông
hoa. Kinh thường đi chùa trong làng với mẹ để cúng dường những bông sen lên
Phật và nghe thuyết Phật pháp từ các cao tăng. Cô rất thích nghe thuyết Pháp.
There was a little girl
whose name was Kinh, who was born in North Vietnam a long, long time
ago. Her parents would have preferred a boy, but a girl was born to them, but
they were still happy and they named her Kinh. Kinh means "respect,
reverence." That is a very good name. You respect people, you respect
animals, you respect life including the plants and the minerals. Reverence.
Reverence for life, for what is there inside of you and around you. Kinh was a
very beautiful child. As a little girl she was already very beautiful, like a
flower. Kinh used to go the Buddhist temple in the village with her mother to
offer lotus flowers to the Buddha and to listen to the Dharma talks given by
the high monk. She loved the Dharma.
Cô có một ước muốn sâu
thẳm trong lòng là trở thành một tu sĩ, bởi vì cô thấy cuộc sống của tu sĩ
rất an lạc và có ích cho rất nhiều người. Cô ước rằng, cô có thể trở thành
một nhà sư, bởi vì sự tu tập, sinh sống trong chùa, mọi thứ, dường như là
rất dễ thương và an lạc. Cô mến từng cử chỉ của các nhà sư, đi đứng
nhẹ nhàng, làm việc với sự nghiêm trang. Cô dò hỏi liệu mình có về khả
năng trở thành một tu sĩ, và các thầy nói không, việc tu hành không dành
cho con gái. Bởi vì thời đó, Phật giáo mới thâm nhập vào Việt Nam ,
chỉ có tu viện cho các tăng sĩ; rất hiếm chùa dành cho ni sư, có lẽ có một
hoặc hai ngôi chùa vào lúc đó. Thời đó, không có máy bay, không có xe buýt,
vì vậy cô không thể nghĩ ra rằng cô có thể đi thật xa để tìm kiếm nơi thu
hành. Cô cảm thấy không hạnh phúc khi nghĩ rằng, cô không bao giờ có thể trở
thành nhà sư bởi vì mình là một cô gái. Dù thất vọng nhưng cô tin rằng, một
cô gái người ta cũng có thể tu tập như một tu sĩ nam, sống trong chánh Pháp
an lạc như một tu sĩ.
There was a very deep
intention in her to become something like a monk, because she saw the monks
living their lives very happily and helping so many people. She wished that she
could become a monk, because practicing, living in the temple—everything—seemed
to be very beautiful and calm. She loved the manner of the monks, going back
and forth with gentleness, touching everything with reverence. She inquired
about the possibility of becoming a monk, and they said no, not for girls.
Because Buddhism had just been introduced into Vietnam , there were only
monasteries for monks; perhaps there were one or two temples for nuns, but they
were very rare. In that time, there was no airplane, there was no bus, so she
could not imagine that she could travel far. She was not happy at the idea that
she could never become a monk because she was a girl. A kind of frustration was
in her—she believed that as a girl one could also practice like a monk, living
the Dharma happily like a monk.
Lớn lên, cô trở thành
một cô gái xinh đẹp và cha mẹ cô muốn gả con gái với một người nào đó trong
làng. Thời xưa, chuyện cưới hỏi được sắp xếp bởi cha mẹ, và bạn phải vâng
theo, bởi cha mẹ được cho là người sáng suốt, từng trải, họ biết ai là
người tốt cho bạn. Mong muốn sâu xa nhất của cha mẹ là nhìn thấy con gái của
họ được gắn bó với một người đàn ông trẻ có một tương lai tươi sáng. Một sáng
nọ, họ nhận được một lá thư từ gia đình một người đàn ông trẻ tuổi, hỏi xem họ
có thể hỏi cưới cô cho con trai của họ. Tên của chàng trai trẻ là Sùng Tin,
" tin theo điều tốt" Không biết người đàn ông này tốt và tương
lai tươi sảng thế nào, nhưng dường như anh ta sinh ra trong một gia đình nề
nếp, danh gia tộc vọng. Anh ta dường như có một tương lai tươi sáng, bởi vì
anh ta là một học trò giỏi và có thể vượt qua các kỳ thi và trở thành một
vị quan lại cao cấp trong triều. Thời xưa, các sỉ tử đều ước mơ vượt
qua kỳ thi cao và được vua lựa chọn làm quan trong triều hoặc đứng đầu một
xứ.
She grew up into a
beautiful girl and her parents wanted to marry her to someone in the
neighborhood. In olden times, weddings were arranged by parents, and you had to
obey them because they had their wisdom, they knew who was good for you. The
deepest desire of parents was to see their daughter be wedded to a young man
with a bright future. One morning they received a letter from the parents of a
young man, asking whether they can marry her to their son. The young man’s name
was Sung Tin—"scholar of goodness," "student of goodness."
I don’t know how good he was, how bright a human he was, but it seemed that he
was born into a family of outstanding tradition, a noble family. He seemed to
have a bright future, because he was a good student and he might pass the
examination and become a high official in the government. The dream of all
students in the past was to pass the high exam and be selected by the king to
be a minister, a chief of province, and so on.
Không có cách nào khác,
Kinh phải vâng lời cha mẹ để trở thành vợ của Sùng Tín, mặc dù mong muốn,
ước mơ sâu xa nhất của mình là trở thành một nữ tu. Không giống trong thời
đại chúng ta. Thời chúng ta, nếu một phụ nữ trẻ muốn trở thành một nữ tu, cô
ấy có thể nhấc điện thoại và hỏi thăm có ngôi chùa nào đó dành cho ni
giới. Nhưng thời đó, Kinh không có bất kỳ cơ hội để làm như vậy. Vì vậy, cô
chôn vùi mong muốn của mình vào trong lòng
và phải vâng lời cha mẹ, gắn bó với người đàn ông trẻ, Sùng Tín. Tất
nhiên, người vợ trẻ đã phải hỗ trợ cho chồng học hành. Nuôi và giúp chồng
thành đạt là nhiệm vụ chính của một người vợ trẻ của thời đó.
Kinh had to obey them to
become the wife of Sung Tin, although her love, her deepest desire, was to
become a nun. There was no way at all; it was not like in our time. In our
time, if a young lady wants to become a nun, she might pick up the telephone
and inquire about the existence of nunneries. But in that time Kinh did not
have any opportunity to do so. So she buried her desire deep inside and had to
obey her parents and be wedded to that young man, Sung Tin. Of course the young
wife had to support her husband in his studies. Nourishing the husband,
supporting the husband so that the husband can succeed in his studies was the main
task of a young wife of that time.
Nhà của Sùng Tin giàu,
vì vậy Kính không phải làm công việc vất vả để nuôi chồng. Cô chỉ trông coi
nhà cửa, giặt giũ, nấu nướng, may vá... Một ngày nọ khi cô đang may vá,
chồng cô, Sung Tín, ngồi học bên cạnh và ngủ thiếp đi.
The family of Sung Tin
was rich, so Kinh did not have to work very hard to support her husband. She
only took care of the housework, cleaned, cooked, sewed his clothes, and so on.
One day while she was mending some cloth, her husband Sung Tin was studying
beside her and fell asleep.
( còn tiếp)
Nhận xét
Đăng nhận xét