Chuyển hóa sự bất công : Câu chuyện Quan Âm Thị Kính Transcending Injustice: The Tale of Quan Am Thi Kinh ( Cuối )

 Chuyển hóa sự bất công : Câu chuyện Quan Âm Thị Kính

Transcending Injustice:  The Tale of Quan Am Thi Kinh
( Cuối )
Giờ khắc làm lễ trà tỳ đã đến. Chuông trống Bát Nhã vang dội lên báo giờ di quan và rước nhục thân người quá cố ra dàn hỏa. Trầm hương xông ngát. Lòng người theo với trầm hương mở rộng và tỏa ra tận mười phương. Chuông đại hồng điểm từng tiếng khoan thai, vỗ về lòng người, giúp cho tâm tư mọi người lắng đọng. Giờ phút này không còn trái tim nào mang tư tưởng hận thù, chia rẽ. Giờ phút này không còn trái tim nào còn mang chất liệu oán hận và căm thù. Trên ba ngàn người có mặt, mà tâm người nào cũng được đánh động bởi tình thương. Trái tim của sư chú Kính Tâm đã đi vào trái tim mọi người. Sư chú Kính Tâm đang có mặt một cách rất hiển nhiên, vừa trong cõi thế gian vừa trên bờ giải thoát.
Trong lúc hỏa đàn bốc cháy, hòa thượng Phương Trượng, trong y hậu đại lễ, chỉ cho tứ chúng thấy một vầng sáng trên trời. Mọi người ngửng đầu nhìn lên. Có rất nhiều vị thấy được một vùng hào quang nơi tập hợp của nhiều đám mây ngũ sắc. Sư chú Kính Tâm là người chân tu, sư chú chắc chắn đã được siêu thăng.
Tới giữa giờ Mùi, lửa hỏa đàn mới tắt. Các đại đức ra lệnh rưới nước thơm dập tắt than lửa, và thu thập tro tàn của nhục thể Kính Tâm. Hai đại đức đã tìm thấy trong tro bảy mươi lăm hạt xá lợi, có hạt lớn bằng đốt tay út, long lanh như hạt châu, có hạt nhỏ như hạt vừng, tất cả đều long lanh chiếu mầu ngũ sắc. Các đại đức tự tay thu nhặt xá lợi và bỏ vào trong một bình bằng sứ trắng để đem vào chùa thờ phụng.
Đứng trên một pháp tòa cao, hòa thượng bắt đầu thuyết pháp cho đại chúng. Giọng ngài rền lớn như tiếng chuông đồng, dù tuổi ngài đã suýt soát bảy mươi. Ngài dạy rằng sư chú Kính Tâm tuy mới là một vị sa di, chưa được thọ giới lớn, nhưng đã tu hành đắc đạo. Sư chú quả là một vị bồ tát hiện thân. Hạnh tu từ bi và nhẫn nhục của sư chú chứng tỏ sư chú đã là một vị bồ tát chân nhân ngay từ hồi sư chú còn hiện tiền hành đạo. Tâm của sư chú đã trở thành tâm vô lượng, tâm không biên giới, không ngằn mé, và tâm ấy là tâm từ, bi, hỷ, xả có khả năng ôm lấy và dung chứa được mọi loài. Đêm qua, trong giờ thiền tọa, hòa thượng đã thấy đức Thế Tôn thị hiện. Tay trái của ngài nâng một đài sen, tay phải của ngài bắt ấn cát tường. Ngài dạy hòa thượng là Kính Tâm đã đạt tới quả vị của một vị đại bồ tát an trú trong Pháp Vân Địa, nghĩa là quả vị cao nhất của một vị bồ tát. Và từ ngón tay trỏ của đức Thế Tôn trong ấn cát tường một tia sáng phát ra. Theo dõi tia sáng đó nhìn lên, hòa thượng thấy một tòa sen báu ngàn cánh; ngồi trên tòa sen là một vị bồ tát dung mạo cực kỳ đoan chính; khuôn mặt đúng là khuôn mặt của sư chú Kính Tâm. Bồ tát mỉm cười chắp tay làm lễ hòa thượng. Lòng tràn đầy hỷ lạc và quy kính, hòa thượng cũng chắp tay kính lễ bồ tát. Giây phút thị hiện rất ngắn ngủi, nhưng thật thâm sâu và rõ ràng. Trong phương trượng của hòa thượng tự nhiên phảng phất một mùi hương kỳ diệu mà hòa thượng chưa bao giờ ngửi thấy.
Hòa thượng tuyên bố giữa đại chúng là ngài phát nguyện khởi xướng việc xây cất một ngôi chùa cho người nữ xuất gia tu tập, theo di chúc của bồ tát Kính Tâm. Bồ tát Kính Tâm đã tu hành đắc đạo, đã độ được cha mẹ và mọi người, từ thân đến sơ. Ngôi chùa này cũng sẽ thờ xá lợi của bồ tát Kính Tâm. Hòa thượng dạy rằng tuy mình là thầy bản sư của Kính Tâm, ngài cũng đã học hỏi được rất nhiều từ công hạnh của bồ tát. Ngài bảo khi một người tu đắc đạo thì không biết bao nhiêu người khác được nhờ cậy. Ngài dạy cho đại chúng niệm: Nam mô đức bồ tát Quan Âm Kính Tâm, vô lượng từ bi, vô lượng hỷ xả, vô lượng nhẫn nhục. Tất cả mọi người trì tụng danh hiệu này một trăm lẻ tám lần, với giọng điệu thiết tha và tâm ý thành khẩn. Hòa thượng còn dạy mọi người là mỗi khi trong lòng có sự bực bội, ganh tức, phiền muộn hoặc oán hờn thì phải trì niệm danh hiệu bồ tát nhiều lần. Nếu một lòng trì niệm danh hiệu ấy thì chỉ trong khoảnh khắc những tâm niệm khổ đau kia sẽ được chuyển hóa.
Rồi hòa thượng kết thúc bài pháp thoại bằng một đoạn kinh trong đó đức Thế Tôn giáo hóa vị sa di La Hầu La về phương pháp hành xử với cuộc đời. Năm ấy sa di La Hầu La được mười bảy tuổi, đã có khả năng tiếp nhận giáo lý sâu sắc. Phật dạy:
"Này La Hầu La, con hãy học cách hành xử của đất. Dù người ta có đổ và rải lên đất những thứ tinh sạch và thơm tho như hoa hương, nước ngọt và sữa thơm, hoặc người ta có đổ lên đất những thức hôi hám và dơ dáy như máu mủ, nước tiểu, đàm giải và phân rác thì đất cũng tiếp nhận những thứ ấy một cách rất thản nhiên, không vướng mắc tự hào cũng không oán hờn hay tủi nhục. Tại sao? Tại vì đất là địa đại, có dung tích rộng lớn, có khả năng tiếp nhận và chuyển hóa. Nếu tâm con rộng lớn vô lượng như đất thì con cũng có thể tiếp nhận và chuyển hóa tất cả mọi bất công và oan ức, và những thứ ấy sẽ không thể làm cho con buồn tủi và khổ đau.
Này La Hầu La, con hãy học cách hành xử của nước. Dù người ta có đổ xuống nước những chất thơm tho đẹp đẽ hoặc giặt rửa trong nước những thứ dơ bẩn và hôi hám, thì cũng không phải vì thế mà nước bị vướng mắc, tự hào hoặc cảm thấy oán hờn và tủi nhục. Tại sao? Tại vì nước là thủy đại, có dung tích rộng lớn, có khả năng lưu chuyển, có thể tiếp nhận và chuyển hóa tất cả những gì đã tiếp nhận. Nếu tâm con rộng lớn, bao la, vô lượng như nước, thì con cũng có thể tiếp nhận và chuyển hóa tất cả mọi bất công và oan ức, và những thứ ấy sẽ không thể làm cho con khổ đau và buồn tủi.
Này La Hầu La, con hãy học cách hành xử của lửa. Lửa có thể tiếp nhận và đốt cháy mọi thứ, dù là những cái xấu xa dơ bẩn, mà lửa vẫn không vì thế mà cảm thấy tủi nhục, buồn khổ và chán chường. Tại sao? Tại vì lửa là hỏa đại, có dung tích rộng lớn, có khả năng thiêu đốt và chuyển hóa tất cả những gì người ta đem tới. Nếu tâm con không kỳ thị, không vướng mắc, con cũng có thể tiếp nhận và chuyển hóa tất cả mọi bất công và oan ức, và những thứ ấy sẽ không thể nào làm xáo trộn được hạnh phúc và bình an trong con.
Này La Hầu La, con hãy học cách hành xử của gió. Gió có thể tiếp nhận, thổi đi và chuyển hóa mọi mùi hương, dù thơm, dù thối, mà không bị vướng mắc, tự hào hoặc buồn khổ hay tủi nhục. Vì sao? Vì gió là phong đại, có dung tích rộng lớn, có khả năng di động phi thường. Nếu tâm con rộng lớn, nếu tâm con có khả năng chuyển hóa và di động thì con cũng có thể tiếp nhận và chuyển hóa tất cả mọi bất công và oan ức mà kẻ khác trút lên con, và những thứ ấy sẽ không thể nào làm xáo trộn được sự bình an và hạnh phúc trong con được."
Những bài kinh mà hòa thượng trú trì đọc lên có âm hưởng của những bài kệ mà ngày xưa sư chú Kính Tâm đã xướng lên mỗi buổi sáng và mỗi buổi chiều trong những giờ thỉnh đại hồng chung. Những lời kinh ấy như nước cam lộ tưới xuống trái tim của mọi người.
Chùa Pháp Vân, gọi tắt là chùa Vân hay chùa Dâu, là nơi phát tích của bồ tát Quan Âm Kính Tâm. Để người ta mãi mãi nhớ rằng đức Quan Âm này xuất thân từ một người con gái, nên dân chúng thay vì gọi ngài là đức bồ tát Quan Âm Kính Tâm, đã thường gọi ngài là bồ tát Quan Âm Thị Kính. Ta cũng nên tùy hỷ theo ước muốn ấy và chắp tay cung kính niệm Nam Mô bồ tát Quan Âm Thị Kính.  Và ta cũng có câu ca dao:
Xem trong cõi nước Nam ta,
Chùa Vân có đức Phật Bà Quan Âm.


The time, the  cremation has arrived. Prajna drums sound the time. Accordance with incense hearts expand and radiate out into the ten directions. Big Mind bell sound helping people mindfull in settle. Moment of the heart no longer carry any ideological hatred, division. Moment of the heart is no longer any animosity also provide material and hatred. Over three thousand people present, but who are also touched by love. Heart of novice Kính Tâm went to the hearts of the people. Mind novice Kính Tâm are available in a very obvious, both in the earthly world just on the shore of liberation.

While fire burning,, venerable abbot, in ceremonial robe, show our a clear rainbow in the sky. People stop to look up. They see a halo where the collection of cloud rainbow. Mind novice Kính Tâm are true practitioners. For a long time, fires off. The Venerable ordered using scence water to burn off the coal fire, and collected the ashes. Two Bhikhus found in the ash, seventy five relics, two large grain as little finger, with small seeds such as sesame. Bhikhus collected by themselves relics and put them in a white porcelain jar to bring to the temple to worship.


Standing on a high Dhamra teaching place, The veneral began to teach dhamar to the community. His big voice hums as mind fullness bell, though he was nearly over the age of seventy. He taught that although Kinh Tam is a novice, not a big ordained, but enlightened practice. Teacher pay is a bodhisattva incarnation. Virtues of compassion and patience demonstrated, Kinh Tam novice was a bodhisattva. Last night, during meditation, the monk saw the Buddha appeared. Raising his left hand a lotus throne, his right hand pressed auspicious start. He taught the monk, Kinh Tam has reached a fruition of the great bodhisattva dwell in Phap Van .

Then Venerable talks Dharma about the Buddha teaches novices Rahula methods behave with life. That year novice Rahula was seventeen years old, was able to receive profound teachings. Buddha:
“Like to earth, Rāhula, practise meditation, like the earth. Just as pure and impure things, Rāhula,— excrement, urine, saliva, pus and blood—are cast upon the earth, and yet the earth neither abhors, nor loathes, nor dislikes such things; even so yourself, Rāhula, earth wise, practise meditation. For, Rāhula, by practising meditation like the earth, the contacts that have arisen—agreeable and disagreeable—will not continue to obsess your mind.
“Like to water, Rāhula, practise meditation water. Just as pure and impure things, Rāhula,—excrement, urine, saliva, pus and blood—are washed (away) in water, and yet water neither abhors, nor loathes, nor dislikes such things; even so yourself, Rāhula, like water, practise meditation, and the contacts that have arisen will not continue to obsess your mind.
“Like to fire. Just as fire, Rāhula, burns pure and impure things—excrement, urine, saliva, pus and blood—and yet fire neither abhors, nor loathes, nor dislikes such things; even so yourself, Rāhula, like fire, practise meditation, and the contacts that have arisen will not continue to obsess your mind.
“Like to air. Just as air, Rāhula, blows upon pure and impure things— excrement, urine, saliva, pus and blood—and yet air neither abhors, nor loathes, nor dislikes such things; even so yourself, Rāhula, like air, practise meditation, and the contacts that have arisen will not continue to obsess your mind.
“Like to space. Just as the vault of heaven, Rāhula, is not attached to any place; even so yourself, Rāhula, like the vault of heaven, practise meditation. For, Rāhula, by practising meditation like space, the contacts that have arisen—agreeable and disagreeable—will not continue to obsess your mind.

Phap Van pagoda called Van pagoda or Dau pagoda, is also the place of the Bodhisattva Avalokitesvara Kinh Tam. For people forever remember that virtue is Guan Yin came from a woman, so people instead of calling him Lord Guan Yin Bodhisattva Kinh Tam, was often referred to him as a bodhisattva Guan Yin Thi Kinh. Let us also rejoice according to desires and hands reverently recite Namo Guan Yin Bodhisattva Thi Kinh. We also have the folksongs
Xem trong cõi nước Nam ta,
Chùa Vân có đức Phật Bà Quan Âm.

( Hết )





Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

法句經, 比丘品, 三七七偈

Community development Phát triển đại chúng.

法句經, 波羅門品, 三八六偈