Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La mật 金 剛 般 若 波 羅 蜜 經 Prajñāpāramitā Diamond Sūtra ( Phần 24-25)

Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La mật
Prajñāpāramitā Diamond Sūtra
( Phần 24-25)
1.  原文本

「須菩提!若三千大千世界中,所有諸須彌山王,如是等七寶 聚,有人持用布施。若人以此般若波羅蜜經,乃至四句偈等,受 持、讀誦,為他人說,於前福德,百分不及一,百千萬億分,乃 至算數譬喻所不能及。」


須菩提!於意云何?汝等勿謂如來作是念:『我當度眾生。』 須菩提!莫作是念!何以故?實無有眾生如來度者。若有眾生如 來度者,如來即有我、人、眾生、壽者。須菩提!如來說有我者, 則非有我,而凡夫之人,以為有我。須菩提!凡夫者,如來說則 非凡夫,是名凡夫。」
2.  Âm Nôm

“Tu-bồ-đề! Nhược tam thiên đại thiên thế giới trung sở hữu chư Tu-di sơn vương, như thị đẳng thất bảo tụ, hữu nhân trì dụng bố thí. Nhược nhân dĩ thử Bát-nhã ba-lamật kinh, nãi chí tứ cú kệ đẳng, thọ trì độc tụng vị tha nhân thuyết, ư tiền phước đức bá phần bất cập nhất, bá thiên vạn ức phần, nãi chí toán số thí dụ sở bất năng cập.

“Tu-bồ-đề! Ư ý vân hà? Nhữ đẳng vật vị Như Lai tác thị niệm: Ngã đương độ chúng
sanh. Tu-bồ-đề! Mạc tác thị niệm. “Hà dĩ cố? Thật vô hữu chúng sanh Như Lai độ giả. Nhược hữu chúng sanh Như Lai độ giả, Như Lai tắc hữu ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.
“Tu-bồ-đề! Như Lai thuyết hữu ngã giả tức phi hữu ngã, nhi phàm phu chi nhân dĩ vi hữu ngã.
“Tu-bồ-đề! Phàm phu giả, Như Lai thuyết tức phi phàm phu.
2. Dịch nghĩa

- Tu Bồ Đề, giá dụ có người tom góp bảy thứ châu báu chứa đầy từng đống cao như tất cả các núi Tu Di trong thế giới tam thiên đại thiên này để mà bố thí thì công đức của những người ấy đem so với công đức của những người đọc, tụng và thọ trì kinh Kim Cương Năng Đoạn này rồi đem giảng nói cho người khác nghe thì trăm phần không được một, trăm ngàn vạn ức phần không được một. Phước đức của người hành trì kinh, dù chỉ là hành trì một bài kệ bốn câu, cũng không thể nào dùng ví dụ hay toán học để mà diễn tả nổi.
- Tu Bồ Đề, các vị đừng có bảo rằng Như Lai có ý niệm “ta sẽ độ chúng sanh”. Tu Bồ Đề, đừng nghĩ như thế. Tại sao vậy? Sự thật thì không có chúng sanh nào để cho Như Lai độ. Nếu Như Lai nghĩ là có thì Như Lai đã vướng vào khái niệm ngã, khái niệm nhân, khái niệm chúng sanh và khái niệm thọ giả rồi. Tu Bồ Đề, cái mà Như Lai nói là có ngã vốn không phải là có ngã mà người phàm phu cho là có ngã. Này Tu Bồ Đề, kẻ phàm phu đó, Như Lai không cho đó là phàm phu cho nên mới gọi họ là phàm phu.

3. Eng lish

"Subhuti, if someone were to fill the 3,000 chiliocosms with piles of the seven precious treasures as high as Mount Sumeru as an act of generosity, the happiness resulting from this is much less than that of another person who knows how to accept, practice, and explain the Vajracchedika Prajnaparamita Sutra to others. The happiness resulting from the virtue of a person who practices this sutra, even if it is only a gatha of four lines, cannot be described by using examples or mathematics."
 “Subhuti, do not say that the Tathagata has the idea, 'I will bring living beings to the shore of liberation.' Do not think that way, Subhuti. Why? In truth there is not one single being for the Tathagata to bring to the other shore. If the Tathagata were
to think there was, he would be caught in the idea of a self, a person, a living being, or a life span. Subhuti, what the Tathagata calls a self essentially has no self in the way that ordinary persons think there is a self. Subhuti, the Tathagata does not regard anyone as an ordinary person. That is why he can call them ordinary persons."
Chú giải

Kinh Kim Cang có nhiều đoạn lặp đi lặp lại như trên để càng tụng chúng ta càng thấm thía. Nếu chỉ nghe một lần thôi ta có thể có cảm tưởng là đã hiểu rồi, ta sẽ quá tin, quá tự đắc, điều đó có thể là nguy hiểm. Thật ra Như Lai cũng dùng ngôn ngữ và ý niệm như tất cả mọi người khác: Như Lai cũng nói hoa là hoa, rác là rác, bồ đề là bồ đề, phiền não là phiền não, nhưng Như Lai không bị kẹt vào những ý niệm và những tên gọi. Còn chúng sanh quen nhìn vào những cái đó như những vật cứng chắc và do đó bị kẹt vào tướng. Cho nên Như Lai mới dùng loại ngôn ngữ này để giúp cho chúng sanh quán chiếu từ từ để có thể thoát khỏi. Đôi khi Phật cũng nói như là có ngã. Ví dụ như Phật nói: “Thầy A Nan ơi, thầy có muốn đi lên núi Linh Thứu với tôi không?”. Khi nói “thầy A Nan ơi” là dùng ý niệm “nhân” rồi, khi nói “đi với tôi không?” là dùng ý niệm “ngã” rồi. Như Lai cũng dùng danh từ và ý niệm, nhưng như lai không kẹt còn chúng sanh khi dùng chúng thì lại bị kẹt. Cái mà Như Lai nói là có ngã vốn không phải là có ngã mà người phàm phu cho là có ngã. Này Tu Bồ Đề, kẻ phàm phu đó, Như Lai không cho đó là phàm phu cho nên mới gọi họ là phàm phu. Câu này có một ý thật hay, gọi kẻ ấy là phàm phu nhưng đồng thời cũng thấy kẻ ấy là một vị Phật. Không phải hễ gọi kẻ đó là phàm phu thì mình khinh rẻ ông ta liền. Mỗi khi nói đến chữ Phật là chúng ta có sự kính nể, không bao giờ chúng ta dám nghĩ là trong con người của Phật và của các vị bồ tát có thể có rác được, vì chúng ta sợ tội bất kính. Trong khi đó giáo lý Bát Nhã của đạo Phật nói rằng ngũ uẩn của Phật cũng có chất hữu cơ. Phật là do những yếu tố không phải Phật làm thành.Tịnh là do những yếu tố bất tịnh làm nên. Tính chất của tình thương trong đạo bụt là bất nhị, vì trong tình thương ấy người thương và người được thương không còn là hai. Sông, biển, rừng, núi, đất, đá v.v… đều là cơ thể của mình. Bảo vệ sinh môi do đó là bảo vệ chính mình. Tình thương trong đạo Phật cũng có tính chất hữu cơ. Trong tinh thần tương tức, tất cả các vấn đề trên thế giới và của con người ta đều được giải quyết bằng các nguyên tắc bất nhị và hữu cơ. Phải biết những đau khổ của bên này là những đau khổ của bên kia, sự dại dột bên này là sự dại dột của bên kia, sự nóng giận của bên này bên kia cũng lãnh đủ và sự ngu dốt của bên kia bên này cũng lãnh đủ hết. Đó là cái nhìn hữu cơ của đạo Phật về tình thương và sự tranh chấp.

Reflection is necessary for insight. The Diamond That Cuts through Illusion has many repetitions such as the ones above, and the more we chant or read this sutra, the more deeply we penetrate its profound significance. If we read it only once, we may think we
understand all of it, but this can be dangerous. Reading a sutra is like doing massage. Time and energy are necessary for success.
The Tathagata uses words and ideas in the same way as others—a flower is a flower, garbage is garbage, awakening is awakening, illusion is illusion, afflictions are afflictions—but the Tathagata does not get caught in names or ideas. We, on the other hand, are in the habit of looking at these things as fixed entities, and we may get caught up in our views. So the Tathagata chooses language that can help us look deeply and, gradually, become liberated.
Sometimes the Buddha speaks in a way that sounds as if there is a self. For example, he said, “Ananda, would you like to go up to Vulture Peak with me?”
When he uses the word “Ananda,” the idea of a person is used. In the sentence, “Would you like to go up to Vulture Peak with me?” the idea of a self is used.
Although the Tathagata uses words and ideas like others, he is not caught by the words and ideas. This is a very deep and beautiful sentence. A person is called an ordinary person but is, at the same time, a Buddha. By calling him or her an ordinary person, the Buddha is not being condescending. We say the word Buddha with respect and admiration. We never imagine that there could be an impure element in the body of a Buddha or a bodhisattva, because we do not want to be disrespectful. But the teachings of prajñaparamita say that the Buddha’s five aggregates are also of an organic nature. The Buddha is made of non-Buddha elements.
The pure is made of the impure. In Buddhism, nonduality is the essential characteristic of love. In love, the person who loves and the person being loved are not two. Love has an organic characteristic. In light of interbeing, all problems of the world and of humankind should be solved according to the principles of organic love and nondual understanding. These principles can be applied to solve the problems of the M iddle East and the former Soviet Union. The suffering of one side is also the suffering of the other side. The mistakes of one side are also the mistakes of the other side. When one side is angry, the other side suffers, and vice versa. These principles can also be applied to solve environmental problems, such as climate change and the environmental degradation.

Rivers, oceans, forests, mountains, earth, and rocks are all our body. To protect the living environment is also to protect ourselves. This is the organic, nondualistic nature of the Buddhist way of looking at conflicts, the environment, and love.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

法句經, 比丘品, 三七七偈

Community development Phát triển đại chúng.

法句經, 波羅門品, 三八六偈