Kinh A Di Đà dịch và chú giải.
Kinh A Di Đà dịch và chú giải.
佛說阿彌陀經
Phật thuyết A Di Đà Kinh
Phật giảng Kinh A Di Đà
Kinh “ Phật thuyết A Di Đà Kinh”, hay còn được gọi là Kinh A Di Đà, là Kinh được Phật tử tụng
phổ biến. Kinh A Di Đà thường được in ấn ở bản dịch âm tiếng Hán có nhiều từ Nôm
khó hiểu. Phật tử Hoàng Phước Đại, pháp danh Đồng An, biên soạn, dịch thuật chú
giải để các Phật tử có thể hiểu rõ hơn lời Phật dạy trong Kinh A Di Đà.
Trong quá
trình biên soạn, tôi có sử dụng các dữ liệu từ Đại Tạng Kinh; các tư liệu, các
bài giảng của quý thầy để biên soạn được chính xác. Mong quý thầy hoan hỉ.
Đoạn kinh thứ 1 :
1. 原文本
如是我聞。一時佛在舍衛國,祇樹給孤獨園。與大比丘僧,千二百五十人俱,皆是大阿羅漢,眾所知識:長老舍利弗、摩訶目犍連、摩訶迦葉、摩訶迦旃延、摩訶俱絺羅、離婆多、周利槃陀伽、難陀、阿難陀、羅侯羅、憍梵波提、賓頭盧頗羅墮、迦留陀夷、摩訶劫賓那、薄拘羅、阿那樓馱,如是等諸大弟子。
并諸菩薩摩訶薩:文殊師利法王子、阿逸多菩薩、乾陀訶提菩薩、常精進菩薩,與如是等諸大菩薩。及釋提桓因等,無量諸天大眾俱。
2. Dịch
âm
Như thị ngã
văn. Nhất thời Phật tại Xá-Vệ quốc, Kỳ thụ Cấp Cô Độc viên, dữ đại Tỳ kheo
tăng, thiên nhị bá ngũ thập nhân câu, giai thị đại A La Hán, chúng sở tri thức:
Trưởng lão Xá
Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy
La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Dà, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề,
Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu
Đà, như thị đẳng chư đại đệ tử.
Tinh chö Boà Taùt Ma Ha Taùt: Vaên Thu Sö Lợi, Phaùp vöông töû, A Daä Đa Boà Taùt, Caøn Đaø Ha Đeà Boà Taùt, Thöôøng Tinh
Taán Boà Taùt, döõ nhö thò
ñaúng chö ñaïi Boà Taùt, caäp Thích Đe Hoaøn Nhaân ñaúng, voâ löôïng chö thieân ñaïi chuùng caâu.
3. Dịch nghĩa
Đây là những
điều tôi đã được nghe Phật nói. Một thời Phật còn cư trú tại nước Xá Vệ, ở tu viện Rừng Kỳ Đà thuộc
vườn Thụ Cấp Cô Độc. cùng với các vị đại Tỳ kheo, một ngàn hai trăm năm mươi vị,
Đều là những đại A La Hán ai cũng biết đến: Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục
Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đà, Châu
Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La
Đọa, Ca Lư Đà Di,Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạt Câu La và A Nậu Lâu Đà, là những đệ tử
lớn của Phật.
Cùng các vị Bồ
Tát đại nhân như Văn Thù, A Dật Đà, Càn Đà Ha Đề, Thường Tinh Tấn, và rất nhiều
các vị Bồ Tát lớn như thế, cùng với chư thiên như Thích Đề Hoàn Nhân, nhiều đến
vô lượng, đều có mặt.
4. Chú giải
Như vầy tôi
nghe, là lời khẳng định của thầy Ananda ( một thị giả của Phật), người đã nghe
Phật thuyết giảng và đọc lại kinh này cho đại chúng nghe. Ananda nói đúng
nguyên văn những gì thầy Ananda nghe được từ Phật. Thầy Ananda nói với đại chúng
rằng Kinh A Di Đà được Phật thuyết giảng kinh vào thời điềm Phật
ở nước Xá Vệ, tại tu viện thuộc khu rừng
có tên là Rừng Kỳ Đà thuộc vườn Cấp Cô Độc.
Tham dự buổi thuyết giảng này có một ngàn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ Kheo các
vị này đều là các vị đã chứng đắc quá A La Hán, và uy danh đều được mọi người biết đến. Các vị đó
là :
Trưởng lão Xá
Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy
La, Ly Bà Đà, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề,
Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lư Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạt Câu La, A Nậu Lâu
Đà, các thầy đều là các đệ tử lớn của Phật.
Laïi coù caùc
vò ñaïi Boà Taùt nhö:
Phaùp Vöông Töû, Vaên Thù Sö Lợi, Boà Taùt A Dật Đa, Boà Taùt Caøn Đaø Ha
Đeà, Boà Taùt Thöôøng Tinh Taán... caùc vò ñaïi Boà Taùt nhö theá, cuøng vôùi vua coõi trôøi laø Ñe Thích vaø voâ soá chö thieân, ñaïi chuùng cuøng quy tuï.
Đeà, Boà Taùt Thöôøng Tinh Taán... caùc vò ñaïi Boà Taùt nhö theá, cuøng vôùi vua coõi trôøi laø Ñe Thích vaø voâ soá chö thieân, ñaïi chuùng cuøng quy tuï.
Như thị ngã văn
(如是我聞), dịch là "Như vầy tôi nghe ”,
đây là lời khẳng định của Ananda ( một thị giả của Phật), người đã nghe
Phật thuyết giảng và đọc lại kinh này cho đại chúng nghe. Ananda nói đúng
nguyên văn những gì ngài nghe được từ Phật.
Nhất thời (一時,) dịch nghĩa là "một thời",
nêu thời điểm Phật ( 佛 ) thuyết giảng kinh.
Tại Xá Vệ quốc ( 在舍衛國) dịch là ở nước Xá Vệ,
Kỳ thụ Cấp Cô Độc viên (
祇樹給孤獨園,) dịch là Rừng Kỳ Đà thuộc vườn Cấp Cô Độc. Trưởng giả Cấp Cô
Độc tên thật là Tu Đạt Đa (Sudatta), do ông hay làm từ thiện bố thí, cứu giúp
những người nghèo khổ, những người cô độc nên được gọi là Cấp Cô Độc. Cấp Cô Độc
muốn mua vườn của Thái tử Kỳ Đà để xây dựng tu viện thỉnh Phật đến thuyết pháp.
Thái tử bảo ông đem vàng lót đầy vườn thì Thái tử sẽ bán vườn cho ông. Khi ông
trải vàng gần xong, Thái tử vui vẻ bảo thôi đừng chở vàng thêm nữa và Thái tử xin cúng dường toàn bộ cây cối trong vườn
cho Phật, do đó khu rừng có tên Rừng Kỳ
Đà thuộc vườn Cấp Cô Độc.
Tiếp theo đoạn
kinh mô tả đại chúng, những người đã đến nghe Phật thuyết pháp.
Dữ đại Tỳ kheo tăng,
thiên nhị bá ngũ thập nhân câu (與大比丘僧,千二百五十人俱), dịch là cùng với các vị đại Tỳ Kheo,
một ngàn hai trăm năm mươi vị. Tỳ Kheo (比丘 )
là người thọ và hành trì 250 giới luật, Đại tỳ kheo tăng (大比丘僧) là những vị đệ tử lớn của Phật.
Giai thị đại A La Hán (皆是大阿羅漢), dịch nghĩa đều là các vị đại A La
Hán. Giai thị ( 皆是 ), dịch nghĩa đều là, tất cả là. A La Hán ( 阿羅漢) có nghĩa là một người thoát khỏi vòng
sinh tử. Họ cùng Đức Phật hoằng pháp mang lại lợi lạc cho tất cả các cõi trời người.
Chúng sở tri thức ( 眾所知識), được mọi người biết đến.
Trưởng lão Xá Lợi Phất ( 長老舍利弗, Shariputra ). Trưởng lão chỉ người
có đức hạnh và tu hành lâu năm. Trưởng lão Xá Lợi Phất, vị thầy nổi tiểng về trí tuệ siêu việt.
Ma Ha Mục Kiền Liên,
( 摩訶目犍連、Mahamaudgalyayana). Ma Ha là để tôn xưng các vị có đức lớn và có trí tuệ,
là những vị đệ tử lớn, hàng đầu của Phật. Ma Ha Mục Kiền Liên là vị đại đệ tử của
Phật, thầy rất giỏi phép thần thông, thầy được công nhận là thần thông đệ nhất
trong hàng ngũ các đệ tử Phật.
Ma Ha Ca Diếp, (摩訶迦葉、Mahakashyapa ). Thầy Ma Ha Ca Diếp nối
tiếng trong số các đệ tử xuất gia của Đức Phật, thực hành khổ hạnh. Thầy Ma Ha
Ca Diếp là người chủ trì lần kiết tập Kinh điển thứ nhất tại thành Vương xá, với
sự tham gia của 500 vị A La Hán.
Ma Ha Ca Chiên Diên, ( 摩訶迦旃延、Mahakatyayana ). Thầy Ma Ha Ca Chiên
Diên nổi tiếng về luận nghị, lý luận của
thầy rất vững chãi và đanh thép.
Ma Ha Câu Hy La, ( 摩訶俱絺羅、Mahakausthila ). Thầy Ma Ha Câu Hy La
nổi tiếng về tài đối đáp trong thuyết pháp
Ly Bà Đà, ( 離婆多、Revata ). Thầy Ly Bà Đà chứng đắc giải
thoát không còn bị dính mắc vào thiện và ác.
Châu Lợi Bàn Đà Già, ( 周利槃陀伽、Suddhipanthaka). Thầy Châu Lợi Bàn Đà
Già, khi mới xuất gia đầu óc tăm tối, trong bốn tháng cũng không thuộc được bài
kệ:. Sau này nhờ Phật dạy, thầy đã chứng
quả A-la-hán nắm rõ được kinh Phật.
A Nan
Đà, (阿難陀、Ananda ), thầy A Nan Đà em họ của Đức
Phật, là thị giả có trí nhớ siêu phàm.
La Hầu La, ( 羅侯羅、Rahula), thầy La Hầu La là con của Đức Phật
Kiều Phạm Ba Đề, ( 憍梵波提、Gavampati), thầy Kiều Phạm Ba Đề có
tướng mạo xấu, do trong đời quá khứ, lúc Ngài làm sa di, nhân thấy một vị lão
tăng không răng niệm Phật, tụng kinh, liền cười ghẹo là trông giống như trâu
đang nhai
cỏ. Sau này
Ngài tuy xuất gia chứng quả, dư báo vẫn chưa hết, miệng luôn nhai nhóp
nhép.
Tân Đầu Lô Phả La Đọa, (賓頭盧頗羅墮、Pindolabharadvaja), thầy Tân Đầu Lô
Phả La Đọa vốn là đại thần của vua Ưu Điền nước Câu Diễm Di.
Ca Lư Đà Di, ( 迦留陀夷、Kalodayin ). Thầy Ca Lư Đà Di có thân
hình thô đen, nhưng thường tỏa ánh sáng chiếu sáng trong đêm tối. Đó là do quả
báo thuở xưa để mình trần thắp đèn trước tượng Phật mà ra. Thầy nối tiếng, nên
được xưng tụng là bậc Giáo Hóa đệ nhất.
Ma Ha Kiếp Tân Na, ( 摩訶劫賓那、Mahakapphina). Thầy Ma Ha Kiếp Tân Na cũng thông hiểu thiên
văn bậc nhất nên được xưng tụng là bậc Tri Tinh Tú đệ nhất.
Bạt Câu La ( 薄拘羅、Vakula,) . Thầy薄拘羅là bậc thiểu dục tri túc, thân không
bao giờ khoác y dày. Thầy có vẻ mặt
nghiêm túc, đoan chánh
A Nậu Lâu Đà, ( 阿那樓馱tiếng phạn là Aniruddha). Thầy A Nậu
Lâu Đà là em họ của Phật, bị mù cả hai mắt. Thầy chứng đắc Thiên Nhãn Thông; thấy
rõ cả 3 cõi.
Như thị đẳng đại đệ tử, ( 如是等諸大弟子), dịch nghĩa những đệ tử lớn của
Phật.
Tinh ( 并),
dịch là Cùng nhau, bao gồm.
Chö
(諸 ),
dịch là cùng với, các, mọi.
Tinh chư ( 并 諸 ) , dịch là cùng với.
Boà Taùt ( 菩薩) , Bồ Tát là một người tỉnh thức. Bồ
Tát từ chữ Boddhisatava mà ra, có nghĩa là con người tỉnh thức và đang giúp người
khác tỉnh thức. Bồ Tát Ma Ha Tát ( 菩薩摩訶薩) dịch là các vị đại bồ
tát.
Văn Thù Sư Lợi Phaùp vöông töû ( 文殊師利法王子).
Thầy là con thứ ba của vua Vô Tránh Nhiệm có tên là
Thái tử Vương Chúng. Ngài cúng dường Phật Bảo Tạng và phát nguyện độ sanh nên
được hiệu là Văn Thù Sư Lợi. Bồ tát Văn
Thù Sư Lợi xuất hiện hầu như trong tất cả các kinh điển quan trọng của Phật
giáo Đại thừa: Hoa Nghiêm, Thủ Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Duy Ma Cật…như là một
nhân vật thân cận nhất của Đức Phật Thích Ca.
Döõ
nhö thò (與如是), dịch cùng đều như vậy.
Đaúng chö (等諸),
dịch cùng hàng, cùng thứ bậc.
Đaïi Bo àTaùt (大菩薩 )
dịch Bồ tát lớn
Caäp (及) dịch
đều, như
Voâ
löôïng ( 無量), dịch rất nhiều
Chö
thieân ñaïi chuùng caâu (諸天大眾俱), dịch các vị đại
chúng nhà trời.
Đoạn kinh thứ 2 :
1. 原文本
爾時,佛告長老舍利弗:「從是西方,過十萬億佛土,有世界名曰極樂,其土有佛,號阿彌陀,今現在說法。」
舍利弗,彼土何故名為極樂?其國眾生,無有眾苦,但受諸樂,故名極樂。」
2. Dịch
âm
Nhó thôøi, Phaät caùo Tröôûng laõo Xá Lợi Phất: Tuøng thò Taây phöông, quaù thaäp vaïn öùc Phaät ñoä, höõu theá
giôùi danh vieát Cöïc Laïc. Kyø ñoä höõu Phaät, hieäu A Di Đaø, kim hieän
taïi thuyeát phaùp.
Xaù Lợi Phaát! Bæ ñoä haø coá danh vi Cöïc
Laïc? Kyø quoác chuùng sanh, voâ höõu chuùng khoå, ñaûn thoï chö laïc, coá danh
Cöïc Laïc.
3. Dịch nghĩa
Lúc bấy giờ
Phật gọi thầy Xá Lợi Phất và bảo: Từ đây đi qua phương Tây, cách khoảng mười vạn
ức cõi Phật, có một thế giới gọi là Cực Lạc, trong cõi ấy, có một vị Phật tên
là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp.
Xá Lợi Phất!
đất nước ấy vì sao gọi là Cực Lạc? Bởi vì dân chúng trong nước ấy không biết khổ
là gì, chỉ hưởng thụ mọi thứ an lạc, cho nên cõi ấy được gọi là Cực Lạc.
4. Chú giải
Kinh A Di Đà
thuộc về loại kinh "vô vấn tự thuyết" nghĩa là tuy không có ai
hỏi cả mà Phật tự nhiên nói ra.
Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni bảo Trưởng lão Xá Lợi Phất, từ đây đi qua phương Tây, cách khoảng
mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới gọi là Cực Lạc.
Thế giới Cực
Lạc là thế giới hết sức vui vẻ. Thế giới này có một vị Phật tên là A Di Đà. A
Di Đà là tiếng Phạn, có nghĩa là Vô lượng quang, cũng có nghĩa là Vô lượng thọ.
Vô lượng quang là ánh sáng của ngài chiếu soi mười phương thế giới không bị chướng
ngại. Vô lượng thọ là sanh mạng của ngài trải qua trăm ngàn vạn ức đại kiếp
cũng không cùng tận.
"Này Xá
Lợi Phất, đất nước ấy vì sao gọi là Cực Lạc? Bởi vì dân chúng trong nước ấy
không biết khổ là gì, chỉ hưởng thụ mọi thứ an lạc, cho nên cõi ấy được gọi là
Cực Lạc.
Đoạn Kinh này
định nghĩa về Cực Lạc. Chúng sanh ở trong cõi nước đó không biết khổ là gì, chỉ
hưởng thụ hạnh phúc mà thôi. Vì vậy, cõi đó gọi là cõi Cực Lạc. Chữ "Cực"
có nghĩa là rất; Cực Lạc là rất sung sướng.
Khi đọc đoạn
Kinh này, mình thấy được lòng từ bi của
đức Thế Tôn. Bởi vì trong chúng ta, ai cũng muốn trốn chạy khổ đau, tìm tới một
cõi không có khổ đau. Phần lớn chúng ta đều là những người nhát gan, đều là những
người yếu đuối, sợ đau khổ, trốn chạy đau khổ, muốn đi tìm tới một cõi không có
khổ đau. Đó là tính người. Phật thấy được điều đó, nên Phật nói :"Có một
cõi không có khổ đau, chỉ toàn là hạnh phúc." Nghe như thế, mình tỉnh người
ra và vễnh hai tai lên nghe và muốn được đến đó.
Nhưng nếu
mình không biết khổ là gì thì mình không thể nào biết vui là gì. Vì vậy, một
cõi không có khổ mà chỉ có vui là một cõi hoàn toàn không tưởng. Cho nên câu
kinh này là "liễu nghĩa" . Tức
là diễn tả điều không có thật. "Dân chúng trong nước đó không biết khổ là
gì, chỉ hưởng thụ mọi thứ an lạc, nên cõi ấy được gọi là Cực Lạc."
Tại sao Phật
lại nói câu "liễu nghĩa" như vậy. Bởi vì Phật biết rằng chúng sinh, rất
sợ đau khổ, nghĩ rằng có thể chạy trốn đau khổ, đi tìm tới một chỗ không có đau
khổ. Phật biết chúng sinh đang khao khát như vậy, nên mới thiết lập phương tiện
để hiến tặng cho họ một tia hy vọng, nói rằng có một cõi không có đau khổ mà chỉ
thuần là hạnh phúc thôi, đó là cõi Cực lạc.
Nhó thôøi (爾時) dịch là lúc bấy giờ. Chính là ngay thời điểm vô lượng chư Thiên, Bồ-tát,
Thanh Văn, A La Hán, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di cùng nhóm họp để
nghe Phật thuyết pháp.
Cáo ( 告) dịch là bảo, nói. Phaät caùo
Tröôûng laõo Xá Lợi Phất
(
佛告長老舍利弗), dịch là Đức bảo Trưởng lão Xá Lợi Phất.
Tuøng
thò ( 從是), dịch là từ đây. Từ địa điểm tịnh xá ở Vườn Kỳ Thụ Cấp
Cô Độc.
Taây
phöông( 西方), dịch là phương Tây. hướng Tây. Tuøng thò Taây
phöông(從是西方), dịch là từ đây đi qua phương Tây. Từ địa điểm tịnh xá ở Vườn Kỳ Thụ Cấp
Cô Độc của nước Xá Vệ đi về hướng Tây.
Qua (過), dịch là cách, khoảng.
Thaäp vaïn öùc ( 十萬億), dịch là mười vạn ức. Ức (億 ),
dịch là vạn, nhiều.
Phaät ñoä (佛土), dịch là cõi Phật
Höõu theá giôùi danh vieát Cöïc Laïc (有世界名曰極樂), dịch là có một thế giới
gọi là Cực Lạc.
Kyø
ñoä ( 其土) dịch là trong cõi ấy, trong đất ấy. Kyø ñoä höõu Phaät (其土有佛) dịch
là có một thế giới gọi
là Cực Lạc, trong cõi ấy.
Hieäu ( 號) dịch
là tên, danh xưng.
Hieäu A Di Đà
( 號阿彌陀 ), dịch là có một vị Phật tên là A Di Đà.
Kim ( 今) dịch
là hieän,
ngay bây giờ.
Kim
taïi thuyeát phaùp ( 今現在說法), dịch là hiện đang thuyết pháp.
Xaù Lợi Phaát ( 舍利弗),thầy
Xaù
Lợi Phaát
Bæ
ñoä ( 彼土 ), bên cõi ấy, bên đất ấy.
Haø
cố (á何故) , dịch là tại sao.
Danh ( 名),
dịch là tên gọi.
Danh
vi Cöïc Laïc ( 名為極樂),
dịch là tên là cực lạc.
Kyø (其),
dịch là cái nó, việc đó.
Kyø
quoác chuùng sanh (其國眾生), dịch là chúng sanh ở nước đó.
Voâ ( 無),
dịch là không có.
Voâ höõu chuùng
khoå (無有眾苦), dịch là Chúng sanh không có khổ
Đaûn (但),
dịch là
nhưng, chỉ.
Đaûn thoï chö laïc (但受諸樂), dịch
là chỉ hưởng thụ hạnh phúc
Coá ( 故) dịch là cho nên, vì vậy.
Cố danh Cöïc
Laïc ( 故名極樂), dịch là Vì vậy, gọi là Cực Lạc.
Đoạn kinh thứ 3 :
1. 原文本
又 舍 利 弗! 極 樂 國 土,七 重 欄 楯,七 重 羅 網,七 重 行 樹,皆 是 四 寶 周 匝 圍 繞,是 故 彼 國 名 為 極 樂。
2. Dịch
âm
Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ, thất trùng lan thuẫn, thất trùng
la võng, thất trùng hàng thọ, giai thị tứ bảo, châu tráp vi nhiễu, thị cố bỉ quốc
danh vi Cực Lạc.
3. Dịch nghĩa
Này nữa, Xá Lợi
Phất! Ở nước Cực Lạc, có bảy lớp lan
can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được làm bằng bốn thứ
châu báu, bao quanh giáp vòng, vì vậy cõi ấy được gọi là cõi Cực Lạc.’’
4. Chú giải
Đoạn kinh này
nói về môi trường trang nghiêm của cõi Cực Lạc.
Cõi Cực Lạc có 7 lớp lan can bảy lớp lưới giăng và bảy lớp hàng cây, tất cả đều được làm bằng bốn thứ châu báu, bao
quanh giáp vòng, Vì cõi ấy đẹp
như thế nên được gọi là cõi Cực Lạc.
Trùng (重),dịch là lớp.
Lan thuẫn ( 欄 楯),lan
can.
La voõng (羅網),lưới giăng.
Haønh thụ ï(行 樹,), hàng cây.
Taùp vi nhieãu ( 匝 圍 繞 ), vây vòng quanh.
Đoạn kinh thứ 4 :
1. 原文本
又舍利弗。極樂國土,有七寶池,八功德水,充滿其中,池底純以金沙布地。四邊階道,金、銀、琉璃、玻璃合成。上有樓閣,亦以金、銀、琉璃、玻璃、硨磲、赤珠、瑪瑙而嚴飾之。池中蓮花大如車輪,青色青光、黃色黃光、赤色赤光、白色白光,微妙香潔。
2.
Dịch âm
Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ, hữu
thất bảo trì, bát công đức thủy, sung mãn kỳ trung, trì để thuần dĩ kim sa bố
địa. Tứ biên giai đạo, kim, ngân, lưu ly, pha lê hiệp thành. Thượng hữu lâu
các, diệc dĩ kim, ngân, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não nhi nghiêm sức
chi. Trì trung liên hoa đại như xa luân: thanh sắc thanh quang, huỳnh sắc huỳnh
quang, xích sắc xích quang, bạch sắc bạch quang, vi diệu hương khiết.
3. Dịch nghĩa
‘‘Này nữa, Xá
Lợi Phất, ở nước Cực Lạc có rất nhiều hồ thất bảo chứa đầy thứ nước có tám công
đức, dưới đáy hồ toàn là cát vàng; bốn bên hồ có những lối đi làm bằng vàng, bạc,
lưu ly và pha lê; phía trên các con đường ấy lại có vô số lâu đài, cũng được
xây dựng và trang trí bằng các chất liệu vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích
châu và mã não. Sen trong các hồ lớn như những chiếc bánh xe, sen xanh chiếu
hào quang xanh, sen vàng chiếu hào quang vàng, sen đỏ chiếu hào quang đỏ, sen
trắng chiếu hào quang trắng, hương sen tỏa ra vi diệu và tinh khiết.
4. Chú giải
Ao bằng bảy
báu là
ao bằng bảy báu gồm vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não
hợp thành. Phật dạy thầy Xá Lợi Phất, ở cõi Cực Lạc có ao bằng bảy báu và trong đó chưa đầy nước tám
công đức. Nước tám công đức đó là nước: trong trẻo sạch sẽ, thanh tịnh mát mẻ,
có vị ngon ngọt, nhẹ nhàng mềm mại, thuần nhị mượt mà, yên ổn điều hòa, uống
vào thì trừ được vô lượng hoạn nạn. Và nước tám công đức đó chứa đầy trong ao.
Ao trong cõi Cực Lạc đáy ao toàn là cát vàng Tiếp theo đoạn kinh miêu tả bốn bên
hồ có những lối đi và được làm bởi kim, ngân, lưu ly, pha lê. Phía trên có lầu
gác đều dùng châu báu như kim, ngân, lưu ly, pha lê, xa cừ,
xích châu, mã não trang trí.
Thất bảo trì
( 七寶池), hồ bảy báo. Trì ( 池). Dịch là hồ.
Bát công đức thủy ( 八功德水), nước tám công đức.
Sung mãn kỳ trung (充滿其中), tràn đầy
bên ở trong.
Kim sa (金沙), đất bằng
vàng.
Giai đạo (階道 ), đều là đường đi.
Lâu các (樓 閣 ), nhà lầu, gác.
Diệc dĩ ( 亦以), đều là,
cũng là.
Nghiêm sức ( 嚴飾), trang trí đẹp.
Đoạn kinh thứ 5 :
1. 原文本
舍利弗。極樂國土,成就如是功德莊嚴。
又舍利弗。彼佛國土,常作天樂。黃金為地。晝夜六時,雨天曼陀羅華。其土眾生,常以清旦,各以衣祴盛眾妙華,供養他方十萬億佛,即以食時,還到本國,飯食經行。
2.
Dịch âm
Xá Lợi Phất!
Cực lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.
Hựu Xá Lợi Phất!
Bỉ Phật quốc độ, thường tác thiên nhạc, hoàng kim vi địa, trú dạ lục thời, vũ
thiên Mạn Đà La. Kỳ độ chúng sanh, thường dĩ thanh đán, các dĩ y kích, thịnh
chúng diệu hoa, cúng dường tha phương thập vạn ức Phật, tức dĩ thực thời, hoàn
đáo bổn quốc, phạn thực kinh hành.
Xá Lợi Phất!
Nước Cực Lạc đầy đủ những công đức trang nghiêm như thế.’’
3. Dịch nghĩa
Lại này
Xá Lợi Phất, cõi nước Phật kia, thường trỗi nhạc trời, vàng ròng làm đất, ngày
đêm sáu thời, mưa hoa Mạn Đà La cõi trời. Chúng sanh ở cõi ấy, cứ mỗi sáng sớm,
thường dùng đãi y, đựng các hoa đẹp, đem cúng dường mười vạn ức Phật ở phương
khác, vừa đến giờ ăn, trở về nước mình, ăn cơm, kinh hành.
Phật dạy thầy
Xá Lợi Phất nước cực lạc có đầy đủ hạnh nguyện trang nghiêm như thế.
4. Chú giải
Ở nước cực lạc, có những con chim bạch hạc, khổng tước,
anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, và cọng mạng...Những con chim này thay phiên
nhau hót, một ngày sáu lần (trú dạ lục thời). Đó là công phu sáu thời. Ngày xưa
trong sự tu tập người ta chia một ngày làm sáu phần gọi trú dạ lục thời. Trú là
ban ngày, dạ là ban đêm. Những con chim này biết rằng dân chúng mỗi ngày đều thực
tập sáu thời cho nên bắt đầu mỗi thời là hót lên, và trong khi chim hót lên thì
ta nghe được tiếng pháp trong đó.
Chúng
sanh ở cõi cực lạc ấy, cứ mỗi sáng sớm,
thường dùng vạt áo, đựng các hoa đẹp, đem cúng dường vô số Phật ở phương khác,
vừa đến giờ ăn, trở về cõi cực lạc để ăn cơm rồi kinh hành.
Xá Lợi Phất ( 舍利弗 ),
thầy Xá Lợi Phất
Cực lạc quốc độ ( 極樂國土, ), đất nước cực lạc.
Thành tựu (成就), đạt được.
Như thị (如是),
như vậy. Khẳng định sự
trang nghiêm đã nói ở phần trên: ao báu, nước tám công đức, lầu gác, hoa sen
v.v...
Công đức ( 功德), tích lũy được
do làm các việc thiện.
Trang nghiêm ( 莊嚴),
trang hoàng đẹp đẽ.
Thường tác (常作),
luôn làm như thế.
Thiên nhạc (天樂), âm thanh của nhạc trời.
Hoàng kim vi địa (黃金為地), vàng ròng làm đất.
Trú dạ lục thời ( 晝夜六時), ngày đêm sáu thời
Thường dĩ thanh đán ( 常以清旦), thường vào lúc sáng sớm. “Thanh đán”
có nghĩa là lúc mới vừa rạng sáng. Nói “thường dĩ” là hàm ý: ngày nào cũng làm
như thế.
Các dĩ y kích ( 各以衣祴), đều dùng vạt áo.
Thịnh chúng
diệu hoa (盛眾妙華), chứa đầy hoa vi diệu. Thịnh có nghĩa là chứa đựng.
Cúng dường ( 供養), Cúng là dâng, Dường là cung kính. Như
vậy, “cúng dường” có nghĩa là kính dâng lên.
Tha phương ( 他方),
các phương khác.
Thập vạn ức
Phật (十萬億佛), diễn tả số nhiều đến cùng cực.
Tức dĩ thực thời (即以食時),
ngay lúc đó.
Hoàn đáo bổn quốc (還到本國), trở
về lại nước đó. Tức dĩ
thực thời hoàn đáo bổn quốc, có thể hiểu là chúng sanh sau khi đi hái hoa vào
buổi sáng lập tức trở về cõi nước cực lạc.
Phạn thực ( 飯食), nghĩa là dùng cơm.
Kinh hành ( 經行), tức là đi nhiễu xung quanh, đi vòng
quanh. Người Phật tử sau khi dùng cơm xong thường đi hành thiền để tu dưỡng
thân tâm.
Đoạn kinh thứ 6 :
Nguyên
văn
1. 原文本
舍利弗。極樂國土,成就如是功德莊嚴。
復次舍利弗:「彼國常有種種奇妙雜色之鳥:白鶴、孔雀、鸚鵡、舍利、迦陵頻伽、共命之鳥。是諸眾鳥,晝夜六時,出和雅音。其音演暢五根、五力、七菩提分、八聖道分,如是等法。其土眾生,聞是音已,皆悉念佛、念法、念僧。
2.
Dịch âm
Xá Lợi Phất!
Cực lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.
Phục thứ Xá Lợi
Phất! Bỉ quốc thường hữu chủng chủng kỳ diệu, tạp sắc chi điểu: Bạch Hạc, Khổng
Tước, Anh Võ, Xá Lợi, Ca Lăng Tần Già, Cộng Mạng chi điểu, thị chư chúng điểu,
trú dạ lục thời, xuất hòa nhã âm. Kỳ âm diễn xướng: Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề
phần, Bát Thánh Đạo phần, như thị đẳng pháp. Kỳ độ chúng sanh, văn thị âm dĩ,
giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
3. Dịch nghĩa
Này Xá Lợi
Phất, cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế!
Lại này
nữa Xá Lợi Phất, cõi nước kia thường có các loài chim màu sắc kỳ diệu, như Bạch
Hạc, Khổng Tước, Anh Võ, Xá Lợi, Ca Lăng Tần Già, Cộng Mạng. Những thứ chim
này, ngày đêm sáu thời, hót lên tiếng hòa nhã, tiếng ấy diễn xướng năm căn, năm
lực, bảy Bồ Đề Phần, tám Thánh Đạo Phần.
Ai nghe tiếng này rồi, tự nhiên đều sanh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm
Tăng.
4. Chú giải
Hai chữ “như
thị” trong đoạn Kinh “ Xá Lợi Phất! Cực lạc quốc độ thành tựu như
thị công đức trang nghiêm” kết lại lời khen ngợi cõi nước Cực Lạc có
các thứ thiên hoa, thiên nhạc...
Tiếp theo là đoạn Kinh “
Phục thứ Xá Lợi Phất! Bỉ quốc thường hữu chủng chủng kỳ diệu, tạp sắc chi điểu..”.
Đoạn Kinh này thuyết minh lần nữa về cảnh kỳ diệu trong cõi Cực Lạc.
Chung quanh
ta cũng đang có rất nhiều loại chim. Nếu sống trong chánh niệm và tâm có định
thì chúng ta cũng có thể nghe trong tiếng gió và tiếng chim có tiếng nói pháp.
Tiếng nói pháp này có thể được xem như là tiếng nói pháp của đức Phật A Di Đà
hay là của những con chim ở cõi Cực Lạc. Nếu có niệm và định thì tất cả những
gì chúng ta thấy và nghe trong đời sống hàng ngày đều là những bài pháp thoại.
Một chiếc lá rụng, một bông hoa nở, một con chim bay ngang hay một tiếng chim
hót đều là những bài thuyết pháp và người đang nói pháp là Phật Tỳ Lô Giá Na, tức
là Phật pháp thân.
Chúng ta phân
biệt ra ba thân của Phật, tức là pháp thân, báo thân và hóa thân. Pháp thân là
bản thể trong sáng bất sinh bất diệt. Báo thân là thân tướng tốt đẹp của những
người đã tu học, đã tạo ra rất nhiều công đức.Và hóa thân hay ứng thân là cái
thân bình thường của ta.
Phục ( 復), có nghĩa là lại nữa, lần nữa.
Thứ ( 次), là tiếp theo.
Phục thứ ( 復次), nhằm khẳng định cõi cực lạc gồm có các thứ diệu cảnh như có
các loài chim màu sắc kỳ diệu, như Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Võ, Xá Lợi, Ca
Lăng Tần Già, Cộng Mạng.
Thường hữu (常 有), luôn xảy ra sự việc như thế.
Chủng chủng ( 種 種 ), quá nhiều, rất nhiều .
Kỳ diệu ( 奇妙 ), rất lạ lùng, đẹp đẽ.
Tạp sắc ( 雜色), có nhiều màu.
Bạch Hạc (白鶴), chim trắng, mỏ dài, chân cao, lông trắng,
có khả năng bay rất xa, tiếng kêu lớn và thanh.
Khổng Tước (
孔雀), là chim Công, đuôi dài, con trống rất
đẹp, thường xoè đuôi và cánh ra như cánh quạt, màu sắc sặc sỡ.
Anh Vũ ( 鸚 鵡), Anh vũ là chim Vẹt, lông xanh, mỏ quặp,
có khả năng nói được tiếng người.
Xá Lợi ( 舍利), Xá lợi là chim Thu, còn được gọi là chim Bách thiệt, mắt rất
trong, tiếng hót dịu dàng, thanh thoát, có thể nói được tiếng người
Ca Lăng Tần Già ( 迦陵頻伽), Ca lăng tần già là tên của một loài
chim quý, lông màu đen, mỏ đỏ, tiếng hót cực hay, êm ái, véo von hơn cả tiếng
trời, thường sống thành cặp chẳng hề rời nhau, còn được gọi là Mỹ âm điểu, Diệu
thanh điểu. Tiếng hót của loài chim này thường được ví như pháp âm của Phật.
Cộng Mạng ( 共命), là một loài chim lạ, cực kỳ quý hiếm
sống ở Tuyết sơn, với đặc điểm là tuy một thân nhưng có hai đầu nên còn gọi là
Mạng mạng điểu hay Sanh sanh điểu.
Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già, Cộng mạng
là những loại chim có màu sắc đẹp, giọng hót hay và quý hiếm. Các loài chim này
được đề cập đến trong kinh Phật. Đức Phật thường lấy giọng hót của các loại
chim này, để so sánh và tán thán những vị Tăng thuyết pháp có âm thanh vi diệu,
chinh phục được thính chúng, đưa họ trở về chánh đạo. Đặc biệt, ở Tịnh độ của
Phật A Di Đà thì Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già, Cộng mạng
liên tục ngày đêm hót lên những pháp âm vi diệu khiến người nghe phát tâm niệm
Phật, niệm Pháp và niệm Tăng.
Thị chư ( 是諸), chỉ các loài Bạch Hạc, Khổng Tước....
vừa nhắc tới ở đoạn trên. Đêm ngày phát ra tiếng.
Thị chư chúng điểu, trú
dạ lục thời ( 是諸眾鳥,晝夜六時),
các loài chim hóa hiện ấy
thuyết pháp không hề gián đoạn.
Hòa nhã ( 出和), thanh tao, dịu dàng,
Xuất hòa nhã âm ( 出和雅音 ), âm thanh điệu kỳ, tao
nhã khiến người nghe sanh tâm vui thích, tâm ý thanh thản, khoáng đạt.
Kỳ âm ( 其音), chỉ các âm thanh hòa nhã của các loài
chim kì diệu
Kỳ âm diễn sướng ( 其音演暢), Âm thanh của chúng có thể “diễn” nói
các diệu pháp, khiến cho tâm người nghe sảng khoái
Ngũ Căn ( 五根 ), năm nền tảng căn bản đưa đến việc sản sinh và tăng trưởng thiện nghiệp.
Bao gồm :
1.Tín căn, lòng
tin vững chắc vào Tam Bảo,
2.Tấn căn, sự nổ lực siêng năng, tinh tấn
dũng mãnh trong việc thực hành tu tập.
3.Niệm căn, nhớ nghĩ đến việc tu tập,
trì giới.
4.Định căn, tâm trụ
vào một nơi, một chỗ để lắng tâm yên tịnh, chuyên chú vào chánh pháp.
2.Huệ căn.
hiểu rõ được chân lý như thật của vô thường.
Ngũ Lực ( 五力), năm lực có được nhờ vào năm căn tăng trưởng
sinh ra trong tu tập, trì giới . Đó chính là thần lực của năm căn,
Bao gồm:
1.Tín lực, sức mạnh
do tín căn sinh ra .
2.Tấn lực, sức mạnh do tấn căn sinh ra .
3.Niệm lực, sức mạnh do niệm căn sinh ra
.
4.Định lực sức mạnh do định căn sinh ra
.
5.Huệ lực.
sức mạnh do huệ căn sinh ra
Thất Bồ Đề Phần
( 七菩提分), còn gọi là thất giác chi, bảy phương pháp tu tập nhằm giúp người tu đạt được
giác ngộ. Bao gồm
- Trạch Pháp : Dùng trí tuệ để lựa chọn phương pháp tu.
- Tinh tấn : Luôn luôn dũng tiến trên bước đường tu tập.
- Hỷ : Sanh tâm hoan hỷ và phấn chí tu hành
- Khinh an: Nhẹ nhàng, an ổn .
- Niệm: Thường ghi nhớ
- Định: Tâm chuyên chú, tập trung.
- Xả : Không vướng bận.
Bát Thánh Đạo Phần ( 八聖道分), tám con đường hay tám phương tiện mầu
nhiệm đưa chúng sinh đến bờ giác ngộ.
Chánh kiến:
Thấy, nghe, hay, biết một cách ngay thẳng, công minh, đúng với sự thật khách
quan.
Chánh tư duy:
Suy nghĩ, xét nghiệm chân chánh, tư tưởng đúng với lẽ phải.
Chánh ngữ: Lời
nói chân thật, công bình, ngay thẳng và hợp lý.
Chánh nghiệp
: Hành động, việc làm chân chính, đúng với lẽ phải, phù hợp với chân lý, có lợi
ích co người lẫn vật.
Chánh mạng: Sống
một cuộc đời ngay thật, không gian tham, không làm giàu trên mồ hôi, nước mắt của
người khác, không làm cho người và vật phải đau khổ vì nghề nghiệp của mình.
Chánh tinh tấn:
Chuyên cần, siêng năng làm việc chánh nghĩa, lợi lạc cho mình cũng như cho người
và vật.
Chánh niệm:
Ghi nhớ đến những điều hay lẽ phải, những điều lợi lạc cho mình cho người,.
Chánh định: Tập
trung tư tưởng vào một vấn đề chính đáng, đúng với chân lý, có lợi ích cho mình
và người.
Như thị đẳng pháp ( 如是等法 ),
Cũng như mọi pháp khác. “ Như thị”, chỉ các pháp Ngũ Căn, Ngũ Lực... vừa nêu trên. Chữ “Đẳng”
hàm ý còn nhiều pháp khác nữa như Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần.... hoặc Tứ Nhiếp
Pháp, Lục Độ, cho đến vô lượng pháp môn.
Kỳ độ (其土), cõi ấy, tức là cõi Cực Lạc.
Văn thị âm dĩ
(聞是音已) , nghe các âm như vậy. “Thị âm” chỉ
các pháp âm do các loài chim phát ra, “ Dĩ ” có nghĩa là đã xong, đã hoàn
tất. Giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng (皆悉念佛、念法、念僧),
đều cùng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Phật, Pháp, Tăng là Tam Bảo. Bảo có nghĩa là tôn quý. Phật,
Pháp, Tăng là ba thứ tôn quý nhất trong mọi pháp xuất thế và thế gian. Ý nói
sau khi được nghe các pháp âm ấy, ai nấy đều xưng niệm Tam Bảo.
Đoạn kinh thứ 7 :
1. 原文本
舍利弗。汝勿謂此鳥,實是罪報所生,所以者何?彼佛國土,無三惡道。
舍利弗。其佛國土,尚無惡道之名,何況有實。是諸眾鳥,皆是阿彌陀佛,欲令法音宣流,變化所作。
2.
Dịch âm
Xá Lợi
Phất! Nhữ vật vị thử điểu, thật thị tội báo sở sanh. Sở dĩ giả hà? Bỉ Phật quốc
độ vô tam ác đạo.
Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ thượng vô ác đạo chi danh, hà huống
hữu thật?
Thị chư
chúng điểu giai do A Di Đà Phật, dục linh pháp âm tuyên lưu, biến hóa sở tác.
3. Dịch nghĩa
Xá Lợi Phất,
thầy đừng tưởng rằng các loài chim ấy đã được sinh ra trên căn bản nghiệp báo.
Tại sao? Tại vì ở nước Phật kia không có ba nẻo đường đen tối là địa ngục, ngạ
quỷ và súc sanh.
Xá Lợi Phất! Ở
nước ấy danh từ ác đạo mà còn không có, huống hồ là sự thực về ác đạo. Những
con chim kia đã được Phật A Di Đà biến hóa ra với mục đích là làm cho pháp âm
được tuyên lưu rộng rãi trong xứ của ngài.
4.Chú giải:
Vật vị ( 勿 謂 ) đừng
bảo, đừng nói. Dùng để răn nhắc.
Thử thị ( 實是), chỉ những loài chim đã kể ở trên như
bạch hạc, khổng tước v.v...
Tội báo sở sanh ( 罪報所生), nghĩa là
do tạo tội nghiệp nên chiêu cảm ác báo thọ sanh trong đường ác.
Sở dĩ giả hà? 所以者何?Tại sao lại
như vậy?
Tam Ác Đạo( 三惡道 ), còn gọi là Tam Đồ, hoặc Tam Ác Thú,
tức là:
a) Địa Ngục
b) Ngạ Quỷ
c) Súc Sanh:
Đoạn kinh thứ 8:
1. 原文本
舍利弗。彼佛國土,微風吹動諸寶行樹,及寶羅網,出微妙音,譬如百千種樂,同時俱作。聞是音者,自然皆生念佛、念法、念僧之心。
舍利弗。其佛國土,成就如是功德莊嚴。
2.
Dịch âm
Xá Lợi Phất.
Bỉ Phật quốc độ, vi phong xuy động, chư bảo hàng thọ, cập bảo la võng, xuất vi
diệu âm, thí như bá thiên chủng nhạc, đồng thời câu tác. Văn thị âm giả, tự
nhiên giai sanh niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm.
Xá Lợi Phất.
Kỳ Phật quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.
3. Dịch nghĩa
Xá Lợi Phất, ở
nước Phật ấy, mỗi khi có gió nhẹ xao động các hàng cây và các màn lưới châu báu
thì người ta được nghe những âm thanh vi diệu, giống như là có trăm ngàn nhạc
khí cùng được tấu lên một lần. Người dân nước ấy mỗi khi nghe các âm thanh kia
thì đều nhiếp tâm niệm Phật, niệm Pháp và niệm Tăng.
Xá Lợi Phất,
nước Cực Lạc đẹp tuyệt vời như thế đấy.
4.Chú giải:
Vi phong (微風), là gió nhẹ.
Bảo la võng (寶羅網),
là những mành lưới do các thứ báu kết thành.
Xuất vi diệu âm (出微妙音), tạo ra nhưng âm thanh kì
diệu.
Thí như bách thiên chủng nhạc
( 譬如百千種樂), giống trăm ngàn loại âm nhạc trên trời.
Đồng thời câu tác ( 同時俱作 ), cùng phát ra một lúc.
Đoạn kinh “
Xá Lợi Phất. Bỉ Phật quốc độ, vi phong xuy động, chư bảo hàng thọ, cập bảo la
võng, xuất vi diệu âm, thí như bá thiên chủng nhạc, đồng thời câu tác” , diễn tả
ở cõi cực lạc, Mỗi khi có gió nhẹ xao động các hàng cây và các màn lưới châu
báu, chúng khua động lẫn nhau, chạm ngọc, lay vàng, tạo thành vô lượng âm thanh
vi diệu. giống trăm ngàn thứ âm nhạc trên trời
cùng hòa tấu.
Văn thị âm giả,
tự nhiên giai sanh niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm.
聞是音者,自然皆生念佛、念法、念僧之心。
Âm (音),
âm thanh.
Văn thị âm (聞是音), nghe âm thanh như vậy. Những âm
thanh vi diệu do gió lùa qua cây báu, mành lưới báu phát ra, cũng như những
pháp âm được diễn nói.
Tự nhiên (自然 ),
không cần phải nhắc nhở.
Ở cõi Tịnh Độ,
khi có gió đi qua các hàng cây và các màn lưới châu báu thì có những âm thanh
vi diệu, có âm nhạc và có lời thuyết pháp. Và khi được nghe những âm thanh như
vậy thì có cơ hội để dân chúng nhiếp tâm niệm Phật, niệm Pháp và niệm Tăng.
Đoạn kinh thứ 9:
1. 原文本
舍利弗。於汝意云何?彼佛何故號阿彌陀?
舍利弗。彼佛光明無量,照十方國,無所障礙,是故號為阿彌陀。
2.
Dịch âm
Xá Lợi Phất!
Ư nhữ ý vân hà? Bỉ Phật hà cố hiệu
A-Di-Đà?
Xá Lợi Phất!
Bỉ Phật quang minh vô lượng, chiếu thập phương quốc, vô sở chướng ngại, thị cố
hiệu vi A-Di-Đà.
3. Dịch nghĩa
Xá Lợi Phất!
Thầy nghĩ sao? Đức Phật kia tại sao có tên là A Di Đà? Xá Lợi Phất! Tại vì đức
Phật ấy là ánh sáng vô lượng có thể chiếu soi được tất cả các cõi nước trong mười
phương mà ánh sáng ấy không hề bị ngăn cách. Vì vậy nên ngài được gọi là A Di
Đà.
4.Chú giải:
A Di Đà (阿彌陀 ), Vô Lượng Quang, ý nói đức Phật A Di
Đà có vô lượng quang minh.
Vô lượng ( 無 量), biểu thị tột bực .
Chiếu thập phương quốc ( 照十方國),
Chiếu mười phương cõi nước.
Diễn tả cảnh được chiếu thật là rộng lớn.
Vô sở chướng ngại (無所障礙), chẳng bị chướng ngại.
A Di Đà là
ánh sáng vô lượng, cũng vì vậy Tuệ Trung Thượng Sĩ đã nói:
‘‘Di Đà đích thực pháp thân ta
Khi đốt lên một
cây đèn nến hay một cây đèn dầu, ta sẽ có ánh sáng, nhưng ánh sáng đó không vô
lượng. Tại vì nến sẽ hết, dầu sẽ hết và theo đó ánh sáng sẽ hết. Nhưng đức A Di
Đà là một nguồn ánh sáng vô tận. Một vị bồ tát, một vị giác ngộ, một vị Phật
luôn luôn từ cơ thể phóng ra ánh sáng. Đó là ánh sáng của chánh niệm. Ánh sáng
của các vị Phật đi rất xa. Phóng ra ánh sáng đó để làm gì? Để soi đường và giúp
người ta đừng bước sa vào hầm hố của khổ đau.
Chúng ta đừng
nghĩ rằng chỉ có Phật và các vị Bồ tát mới có thể phát ra ánh sáng này. Người
nào trong chúng ta cũng có thể phát ra ánh sáng đó, ánh sáng của chánh niệm.
Trong khi đi, đứng, nằm, ngồi hay thuyết pháp, ánh sáng của chánh niệm tỏa chiếu
đi rất xa. Khi người ta tới chơi hay tới thăm viếng mà thấy chúng ta đi, đứng,
nằm và ngồi trong chánh niệm, họ cũng thấy ánh sáng trong thân ta đang chiếu
ra. Khi một tia sáng này của ta chạm vào một người khác thì người ấy cũng cảm động
và cũng muốn được đi, đứng và làm việc ung dung như vậy. Các tỳ kheo, tỳ kheo
ni và các đạo hữu ở đây người nào cũng có thể phát ra ánh sáng từ thân thể, từ
tâm hồn của mình. Tất cả chúng ta đều có khả năng phát ra ánh sáng chánh niệm,
và chỉ có sự thực tập chánh niệm mới làm phát ra ánh sáng đó. Chánh niệm đưa đến
chánh định, chánh định đưa đến trí tuệ. Đó là những viên ngọc lưu ly có thể chiếu
ra ánh sáng. Chúng ta đừng có mặc cảm. Chúng ta cũng có thể phóng quang được
như đức A Di Đà, tuy ánh sáng của ta chưa đi xa bằng, nhưng chúng ta đã có thể
phóng ra được. Nếu mỗi ngày ta đều thực tập thì ánh sáng càng ngày càng được
phóng xa. Ánh sáng đó có thể được phát ra dưới nhiều hình thức. Phát ra ánh
sáng là điều chúng ta làm được và làm được ngay ngày hôm nay. Hễ bước một bước
chân có chánh niệm thì có ánh sáng lóe ra liền. Ta phải hiểu ánh sáng là như vậy.Và
ánh sáng của đức A Di Đà là vô lượng.
Đoạn kinh thứ 10:
1. 原文本
又舍利弗。彼佛壽命,及其人民,無量無邊阿僧祇劫,故名阿彌陀。
2.
Dịch âm
Hựu Xá Lợi Phất!
Bỉ Phật thọ mạng, cập kỳ nhơn dân, vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, cố danh A
Di Đà.
3. Dịch nghĩa
‘Hơn nữa, Xá
Lợi Phất! Thọ mạng của đức Phật ấy cũng như của dân chúng trong nước ngài là thọ
mạng vô lượng kéo dài tới vô lượng vô biên kiếp a tăng kỳ, vì vậy, danh hiệu của
ngài là A Di Đà’’
4.Chú giải:
Thọ mạng (壽命 ),
tuổi thọ của con người
Cập kỳ nhân dân (及其人民), cùng với nhân dân.
Chẳng những
thọ mạng của Đức Phật là vô lượng, mà tất cả mọi người trong cõi Cực Lạc đều có
thọ mạng vô lượng.
A tăng kỳ kiếp
(阿僧祇劫 ), vô lượng,
vô số.
Đứng về phương diện tích môn thì chúng ta có
sanh có diệt. Nhưng theo giáo lý đạo Phật thì bản chất của chúng ta là không
sanh và không diệt. Đứng về phương diện bản môn thì thọ mạng của ta cũng vô lượng
như thọ mạng của đức Thế Tôn và của đức A Di Đà. Nhìn cho kỹ ta thấy tất cả mọi
hiện tượng trong vũ trụ đều như vậy. Một bông hoa hay một chiếc lá cũng có thọ
mạng vô lượng. Nhìn cạn cợt thì ta thấy chiếc lá có sinh và có diệt; nhìn sâu
thì chúng ta thấy sinh diệt chỉ là cái bên ngoài. Bản chất của một chiếc lá là
vô sinh bất diệt, bản chất của chúng ta cũng như vậy. Ánh sáng của đức A Di Đà
là vô lượng nên thọ mạng của ngài cũng là vô lượng. Ánh sáng của cái đèn dầu có
khi tắt, nhưng ánh sáng của đức A Di Đà không bao giờ tắt. Vì thọ mạng của đức
A Di Đà là vô lượng. Bởi vì chúng ta cũng có bản chất bất sanh và bất diệt. Niệm
Phật cho sâu sắc, quán chiếu về đức A Di Đà cho sâu sắc, ta tiếp xúc được với bản
môn, với tính vô sinh bất diệt của chính ta, và đó là thành quả cao nhất của sự
thực tập.Ta thấy được rằng bản chất của ta cũng là bản chất vô lượng thọ.
Đoạn kinh thứ 11:
1. 原文本
舍利弗。阿彌陀佛成佛已來,於今十劫。
又舍利弗。彼佛有無量無邊聲聞弟子,皆阿羅漢,非是算數之所能知。諸菩薩眾,亦復如是。
2.
Dịch âm
Xá Lợi Phất!
A Di Đà Phật thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp.
Hựu Xá Lợi Phất!
Bỉ Phật hữu vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử, giai A La Hán, phi thị toán số,
chi sở năng tri, chư Bồ Tát chúng diệc phục như thị.
3. Dịch nghĩa
Xá Lợi Phất.
Từ khi Phật A Di Đà thành đạo đến nay tính ra là đã mười kiếp.
Này nữa, Xá Lợi
Phất. Số đệ tử thanh văn đã đắc quả A La Hán của đức Phật ấy nhiều vô lượng,
không thể đếm được bằng toán học, số đệ tử Bồ Tát của ngài cũng đông đảo như thế.
4.Chú giải:
Thành Phật dĩ lai (成佛已來), từ lúc thành Phật.
Thập kiếp (十劫),
mười kiếp.
Trên phương
diện tích môn, từ khi đức Phật A Di Đà thiết lập ra cõi Cực Lạc qua mười kiếp.
Thanh Văn đệ tử ( 聲聞弟子),
đệ tử Phật thuộc hàng Thanh
Văn. Những người do được nghe Đức Phật giảng thuyết pháp Tứ Đế mà ngộ đạo.
A La Hán (阿羅漢), chẳng thọ sanh trong Tam Giới nữa.
Phi thị toán số chi sở
năng tri ( 非是算數之所能知 ), số lượng nhiều đến nỗi chẳng thể dùng phép toán mà biết
được.
Diệc phục như thị (亦復如是), cũng giống như thế. Ngụ ý chẳng những
các chúng Thanh Văn nhiều vô lượng vô biên mà các vị Bồ Tát cũng đông nhiều như
thế, chẳng thể tính toán được nổi!
Chúng ta thấy
rằng tuy đức A Di Đà mới thiết lập cõi Cực Lạc được mười kiếp, nhưng số đệ tử
Thanh Văn đã đắc quả A La Hán của Ngài nhiều vô lượng không thể đếm được bằng
toán học. Số đệ tử bồ tát của ngài cũng đông đảo như thế. Nghĩa là đức A Di Đà
có đệ tử về phía Thanh Văn và cũng có đệ tử về phía Bồ Tát.
Đoạn kinh thứ 12:
1. 原文本
舍利弗。彼佛國土,成就如是功德莊嚴。
又舍利弗。極樂國土,眾生生者,皆是阿鞞跋致,其中多有一生補處,其數甚多,非是算數所能知之,但可以無量無邊阿僧祇說。
2.
Dịch âm
Xá Lợi Phất!
Bỉ Phật quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.
Hựu Xá Lợi Phất!
Cực lạc quốc độ chúng sanh sanh giả, giai thị a bệ bạt trí. Kỳ trung đa hữu, nhất
sanh bổ xứ, kỳ số thậm đa, phi thị toán số, sở năng tri chi, đản khả dĩ vô lượng
vô biên a tăng kỳ thuyết.
3. Dịch nghĩa
"Này Xá
Lợi Phất! Nước Phật kia đã được xây dựng bằng những công đức đẹp đẽ như thế.
"Này nữa
Xá Lợi Phất! Tất cả những ai sinh về nước Cực Lạc đều có tư cách bất thối chuyển,
trong số ấy có nhiều vị đã là Bồ Tát nhất sinh bổ xứ. Số lượng của các vị này
đông đảo vô cùng, không thể dùng toán học mà kiểm đếm được, ta chỉ có thể dùng
danh từ vô số A Tăng Kỳ để diễn tả mà thôi.
4.Chú giải:
A Bệ Bạt Trí ( 阿鞞跋致), bất Thoái Chuyển; không còn bị sa đọa trở lại
Nhất sanh bổ xứ (一生補處),
Bồ Tát sẵn sàng được
sinh ra một lần cuối để thành Phật.
Trong những
đoạn kinh vừa qua chúng ta đã được nghe Những công đức đẹp đẽ như các hàng cây,
các hồ sen có nước tám công đức, âm nhạc trên không, dân chúng có thì giờ để đi
hái hoa cúng dường các vị Phật, nấu cơm, ăn cơm, đi kinh hành, nghe chim hót,
nghe thông reo, nghe thuyết pháp và dân chúng ở nước Cực Lạc rất đông. Tất cả
những cái đó đều là những công đức và những cái đẹp mầu nhiệm của cõi Cực Lạc.
Trong kinh
này, Phật liên tiếp đưa ra những hình ảnh rất tích cực về nước Cực Lạc, và sau
khi đưa ra những hình ảnh tích cực kia Phật lại nói: ‘‘Còn nữa... này nữa...’’
Trong nguyên văn là: ‘‘Phục thứ Xá Lợi Phất!’’. Chúng ta dịch là ‘‘Này nữa Xá Lợi
Phất!''.''Này nữa Xá Lợi Phất! Tất cả những ai sinh về nước Cực Lạc đều có tư
cách bất thối chuyển.’’ Bất thối chuyển có nghĩa là không còn bị sa đọa trở lại.
Thối là đi lui; hễ sinh sang nước đó rồi thì chỉ đi tới thôi, không còn đi lui,
không rơi rụng trở lại nữa, nghĩa là không rơi rụng trở lại trong cõi đau khổ,
chìm đắm và hệ lụy. Tại sao? Tại vì có một cái gì giống như một cái lưới đã được
giăng ra làm cho mình có muốn rơi xuống cũng không rơi xuống nữa.
Bất thối chuyển
nghĩa là không còn sa đọa trở lại. Những người nào sinh về cõi Cực Lạc đều có
tư cách bất thối chuyển.
Và trong số
đó có nhiều vị bồ tát đã là nhất sanh bổ xứ. Bồ tát nhất sanh bổ xứ là bồ tát sẵn
sàng được sinh ra một lần cuối để thành Phật. Muốn cõi nào thì đi về cõi đó để
thành Phật. Đức Thích Ca Mâu Ni trước khi sanh đã là bồ tát nhất sanh bổ xứ,
sinh ra lần chót ở cõi Ta Bà và thành Phật ở đây. Số lượng các vị này, tức là
các vị bồ tát nhất sanh bổ xứ, đông đảo vô cùng, không thể nào dùng toán học để
kiểm đếm được. Ta chỉ có thể dùng danh từ vô số A Tăng Kỳ để diễn tả mà thôi.A
Tăng Kỳ có nghĩa là vô số. Chữ A tức là vô và Tăng Kỳ là số.
Đoạn
kinh thứ 13:
1. 原文本
舍利弗。眾生聞者,應當發願,願生彼國,所以者何?得與如是諸上善人俱會一處。
2.
Dịch âm
Xá Lợi Phất!
Chúng sanh văn giả, ưng đương phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc. Sở dĩ giả hà? Đắc dữ như thị chư thượng thiện
nhân, câu hội nhất xứ.
3. Dịch nghĩa
Xá Lợi Phất!
Chúng sanh mọi nơi, khi nghe nói tới nước Cực Lạc đều nên phát nguyện sanh về
nước ấy.
Tại sao? Tại
vì sinh về nước đó thì sẽ được sống chung và gần gũi với rất nhiều các bậc thiện
nhân cao đức
4.Chú giải:
Chúng sanh văn giả (眾生聞者),
chúng sanh nghe những công đức thù thắng mầu nhiệm ở cõi Cực Lạc.
Ưng đương phát nguyện (應當發願), phải nên phát nguyện.
Nguyện sanh bỉ quốc (願生彼國),
chí nguyện cầu sanh ở cõi nước Cực Lạc.
Sở dĩ giả hà? (所以者何),
câu hỏi tại sao như vậy?
Thiện nhân (上善人),
người nghĩ đến điều thiện và làm điều thiện. Chỉ các vị Bồ Tát, Nhất Sanh Bổ Xứ
…
Đoạn Kinh này
là lời gởi gắm, nhắn nhủ và khuyên bảo của đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn khuyên rằng:
Nếu chúng sanh được nghe nói đến cõi Cực Lạc thì nên phát tâm sanh về cõi đó.
Và Thế Tôn đưa ra một lý do rất chính đáng:
‘‘Tại sao? Tại
vì sinh về nước đó thì sẽ được sống chung và gần gũi với rất nhiều các bậc thiện
nhân cao đức.’’
Chúng sanh
không phải sinh về nước đó thì có vàng, bạc, ao, hồ, gió, các loại chim, các
hàng cây hay các thứ đẹp đẽ khác mà bởi vì một lý do rất quan trọng. Nước này
có một cảnh tượng rất đẹp: đó là nơi tụ họp của rất nhiều bậc cao đức. Đó là lý
do để chúng ta sinh về cõi cực lạc.
Cõi cực lạc
có các thiện nhân, họ là những người có trái tim rất rộng, có những hạt giống rất
lành trong tâm thức, chỉ muốn nghĩ điều lành, nói điều lành và làm điều lành
thôi. Thiện nghĩa là tốt lành. Nhân phẩm của các vị thiện nhân là nhân phẩm cao
đẹp cho nên gọi là thiện nhân cao đức. Trong cõi này, ta chỉ nghĩ tới những điều
thiện thôi và tư tưởng của ta là tư tưởng thiện. Vì sao vậy? Vì hoàn cảnh chung
quanh có nhiều điều kiện để tưới tẩm và đánh động tới những hạt giống lành ở
trong ta. Ví dụ, khi nghe tiếng chim hót, thì được nhắc nhở những giáo lý Ngũ
căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần,... khi nghe tiếng gió reo qua đọt thông thì ta
cũng được nghe pháp; sống giữa những người biết đi, đứng, nằm và ngồi trong
chánh niệm thì ta cũng được đi, đứng, nằm và ngồi trong chánh niệm và tâm tư ta
luôn luôn nghĩ đến điều thiện.
Buổi sáng
nghĩ điều lành, buổi trưa nghĩ điều lành, buổi tối nghĩ điều lành, ta có một niềm
vui. Sở dĩ tâm ý ta luôn luôn tương ứng với điều lành là do hoàn cảnh chung
quanh rất thuận tiện. Chung quanh ta toàn là những người lành. Và tất cả những
gì ta thấy và nghe ở chung quanh cũng đều có tác dụng tưới tẩm những hạt giống
tốt đẹp ở trong ta, gọi là ý lành. Miệng lành, tức là những lời ta nói ra đều
là lành. Ta không còn chửi mắng, vu khống, thêu dệt hay nói xấu. Vì mọi người
đang học tập chánh pháp, do đó không ai có cơ hội để nghĩ và nói tới những điều
không lành. Mỗi lời nói của ta đều có tác dụng làm cho êm dịu tâm tư và ban
phát hạnh phúc cho những người ở chung quanh. Ở cõi Tịnh Độ không có ác ngữ mà
chỉ có thiện ngữ. Và thân ta cũng vậy. Tất cả mọi người đều thực tập với tư
cách của các vị bồ tát. Vì vậy nơi cõi Tịnh Độ, không có sự giết chóc lẫn nhau
và không có sự ăn cắp. Ở cõi Tịnh Độ không
có sát, đạo và dâm. Vì ở bên đó có những niềm vui rất lớn. Ở Tịnh Độ dân chúng
thực tập giới cho nên không ăn thịt, không uống rượu và không sử dụng những thứ
kích thích. Vì vậy người ta không phạm giới dâm dục, không phạm giới sát sanh,
cũng không phạm giới trộm cắp. Những con người bên đó đều có lý tưởng cao vời,
ai cũng muốn những chuyện đẹp thôi, tức là muốn thành lập Tịnh Độ.
Đoạn kinh thứ 14:
1. 原文本
舍利弗。不可以少善根福德因緣,得生彼國。
舍利弗。若有善男子善女人,聞說阿彌陀佛,執持名號,若一日、若二日,若三日,若四日,若五日,若六日,若七日,一心不亂,其人臨命終時,阿彌陀佛,與諸聖眾,現在其前。是人終時,心不顛倒,即得往生阿彌陀佛極樂國土。
2.
Dịch âm
Xá Lợi Phất!
Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc.
Xá Lợi Phất!
Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thuyết A Di Đà Phật, chấp trì danh
hiệu: nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật, nhược tứ nhật, nhược ngũ
nhật, nhược lục nhật, nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn. Kỳ nhân lâm mạng
chung thời, A Di Đà Phật dữ chư Thánh chúng, hiện tại kỳ tiền. Thị nhân chung
thời, tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh A Di Đà Phật Cực Lạc quốc độ.
3. Dịch nghĩa
"Xá Lợi
Phất! Những kẻ thiếu phúc đức và căn lành thì ít hy vọng được sinh về cõi ấy.
Xá Lợi Phất,
người con trai lành hay người con gái lành nào muốn sinh về cõi ấy thì khi nghe
đến danh hiệu A Di Đà Phật phải nắm lấy danh hiệu ấy mà hết lòng thực tập quán
niệm theo phương pháp nhất tâm bất loạn, hoặc trong vòng một ngày, hai ngày, ba
ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày hay bảy ngày. Người ấy, đến khi lâm chung, sẽ
được thấy Phật A Di Đà và các vị thánh chúng nước ấy hiện ra trước mặt. Trong
giờ phút ấy, tâm ý người kia sẽ an trú trong định, không hề điên đảo và tán loạn,
do đó người ấy được vãng sinh ngay về nước Cực Lạc.
4.Chú giải:
Thiện căn (善 根), tâm nguyện thuần lương, tinh tấn
hành trì.
Phước đức (福德), làm những điều lành nhằm tạo lợi
ích cho người khác.
Chấp trì (執 持), giữ gìn cái nhận được. Nhất tâm bất loạn (一心不亂) tâm không bị gián đoạn.
Lâm mạng chung thời (臨命終時), là lúc khổ báo trong cõi Sa Bà sắp chấm dứt.
Lúc lâm chung, cảm được Phật, Thánh đến tiếp dẫn hoàn toàn là
cậy vào Tự Lực và Tha Lực cảm ứng đạo giao mà thành. Phàm nhân, lúc bình thời
đã tạo những nghiệp thiện ác gì, lúc lâm chung, những cảnh thiện ác ấy đều cùng
lúc hiện ra trước mặt.
Thị nhân (是人
), chỉ người niệm Phật.
Chung thời (終時), là lúc khí ấm trên thân đã hết, thức
thần sắp ly khai xác thân.
Tâm bất điên đảo(心不顛倒 ), tâm minh mẫn, chánh niệm.
‘‘Xá Lợi Phất!
Những kẻ thiếu phúc đức và căn lành thì ít hy vọng được sanh về cõi ấy’’.
Câu kinh này
có thể làm cho ta nản chí. Nhưng sẽ có những câu kinh khác làm cho chúng ta phấn
khởi trở lại. Như câu chúng ta chỉ cần niệm Phật một lần hoặc mười lần là đã đủ
điều kiện để sinh về Tịnh Độ. Ta nên tin vào câu kinh này hay là tin vào câu kinh
kia? Thật ra nếu ta hiểu được câu kinh này thì ta sẽ hiểu được những câu kinh
kia, và nếu không hiểu được câu kinh này thì ta cũng không hiểu được những câu
kinh kia. Hai câu không chống nhau mà bổ túc cho nhau. Hai câu kinh này là hai
mặt cùng một thực tại.
‘‘Xá Lợi Phất,
những kẻ thiếu phúc đức và căn lành thì ít hy vọng được sanh về cõi ấy.’’ Phúc
đức tức là những may mắn, những thiện duyên. Căn lành là những gốc rễ tốt đẹp.
Trong lòng chúng ta nếu những gốc rễ ấy hiếm hoi thì chúng ta ít hy vọng được
sanh về cõi đó. Căn là gốc rễ, nhưng cũng có khi được hiểu là hạt giống. Có những
lúc chúng ta trồng cây bằng rễ, có những lúc chúng ta trồng bằng hạt. Trồng bằng
hạt cũng lên, trồng bằng rễ cũng lên. Như hoa sen vậy. Ta trồng sen bằng hạt
hay bằng củ thì sen cũng đều lên được. Vậy muốn sanh về cõi Cực Lạc ta phải có
hạt hoặc là rễ của Tịnh Độ. Nghĩa là những hạt giống tốt đẹp mà ta đã gieo vào
trong tâm thức của ta, như ta đã có lần đến chùa lạy Phật, đã có lần bố thí cho
một em bé mồ côi, đã có lần cúng dường cho một vị xuất gia, đã có lần đưa tay
ra cứu một con kiến đang chết đuối. Tất cả những hành động đó đều là những hành
động gieo trồng căn lành. Hay ta đã từng mở miệng đọc Nam mô Phật. Tất
cả những cử chỉ nho nhỏ đó đều là những căn lành đã gieo trồng. Điều này trong
kinh Pháp Hoa có dạy:
‘‘Nhược nhân tán loạn tâm,
nhập ư tháp miếu trung,
nhất xưng Nam mô Phật,
giai dĩ thành Phật đạo.’’
Giả dụ có một
người tâm ý tán loạn mà bước vào trong chùa, hoặc bước vào trong tháp, rồi mở
miệng niệm lên một câu ‘‘Nam
mô Phật’’ thì cái đó đã là một nhân duyên có thể đưa đến sự kiện người đó thành
Phật sau này. Tuy là một hạt giống rất nhỏ, một cái rễ rất nhỏ, nhưng hành động
ấy đã được gieo trồng vào trong tâm, và thế nào ngày mai nó cũng sẽ trở thành
những nhân duyên đưa mình đi đến với đạo và thành đạo. Nhất xưng Nam mô Phật. Nhất xưng là chỉ niệm một lần Nam mô Phật
thôi. Ấy vậy mà hạt giống đó sẽ đưa đẩy người kia đi đến cái nhân duyên thành
Phật sau này. Đó chính là những căn lành, những phước đức.
‘‘Xá Lợi Phất,
những kẻ thiếu phúc đức và căn lành thì ít hy vọng sanh về cõi ấy.Vì vậy Xá Lợi
Phất! Người con trai lành, người con gái lành nào muốn sanh về cõi ấy thì khi
nghe danh hiệu Phật A Di Đà, phải nắm lấy danh hiệu ấy.’’
Nghĩa là nghe
danh hiệu thì phải nắm lấy danh hiệu. Tại vì danh hiệu hay địa chỉ ấy rất quan
trọng. Vì sao? Nếu ghi nhận được danh xưng ấy, tên gọi ấy, thì mình có cơ thoát
ra khỏi cái trầm trệ khổ đau của mình.
‘‘Phải nắm lấy
danh hiệu ấy mà hết lòng thực tập quán niệm theo phương pháp nhất tâm bất loạn,
hoặc trong vòng một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày hay bảy
ngày...’’
Có người nghĩ
rằng mình khó có định, khó có tuệ, mình tu không được, người khác tu chắc cũng
không được. Nhưng Phật nói tất cả đều tu được. Con cứ tu đi, nếu con nghĩ rằng,
con niệm mười tiếng không được thì con niệm một tiếng cũng được. Điều cảm động
nhất là ở chỗ đó. Phật duỗi cánh tay ra để cứu vớt những người trầm luân ở
trong cuộc đời, và độ những người không có khả năng giới, định và tuệ. Phật nói
con hãy làm đi, con sẽ làm được’’.
Chúng ta biết
rằng ở trong dược khoa, nhiều khi vì thuốc đắng nên những nhà bào chế phải đưa
chất ngọt vào và làm cho thuốc đó trở thành ngọt. Những viên thuốc tể ở Đông y
cũng vậy. Người ta tán thuốc ra và trộn với mật ong để cho mình cảm thấy ngọt
mà uống được. Có một thứ chè gọi là sâm bổ lượng. Những thứ này mát, con nít chịu
ăn vào thì cơ thể chúng mới mát mẻ, mới không còn nổi mụt, vì vậy ta làm cho nó
thành chè. Cũng như mẹ bỏ viên thuốc ki ninh đắng vào trong một miếng chuối để
cho mình ngậm vào miệng, rồi bảo: ‘‘Nuốt đi con.’’Tất cả những cái đó đều từ
lòng thương mà ra. Ở đây cũng vậy, Đức Thế Tôn là một bà từ mẫu, biết rằng con
mình có đứa mạnh giỏi, nhưng cũng có đứa yếu đuối, thành phải thi thiết ra những
pháp môn phương tiện để các con có thể thâu thập một chút nào của chánh pháp. Nếu
không thâu thập nhiều thì thâu thập ít. Tất cả đều là do lòng từ bi vô lượng của
đức Thế Tôn đối với chúng sanh.
‘‘Sẽ thấy được Phật A Di Đà và thánh chúng nước
ấy hiện ra trước mặt.’’
Mỗi ngày mình
niệm một câu, mà ngày nào cũng niệm. Nếu giỏi thì niệm hai câu hay mười câu, và
mỗi ngày đều niệm như vậy. Đến khi lâm chung, tự nhiên mình sẽ nhớ mà niệm. Còn
nếu nói:‘‘Thôi, bây giờ chưa cần niệm, đợi đến phút gần lâm chung niệm một lần
cho luôn.’’ thì mình sẽ mất cơ hội. Vào giờ phút lâm chung, mình đau nhức quá
trời. Làm sao nhớ mà niệm. Quan trọng là ngày hôm nay. Chúng ta phải niệm, dù
là niệm chỉ được một hoặc hai câu. Người ta nói mình mê tín, mình cũng cứ niệm,
bởi vì niệm như vậy mình biết rằng mình đã gieo một hạt giống tốt đẹp vào trong
tâm thức. Nếu một ngày niệm một câu hay mười câu, thì thế nào đến giờ phút lâm
chung mình cũng không còn sợ hãi nữa. Mình đã thuộc danh hiệu rồi, tự nhiên lúc
đó mình sẽ nhớ. Ta phải nắm lấy danh hiệu mà hết lòng thực tập quán niệm.
Phương pháp này gọi là phương pháp trì danh. Trì danh không phải chỉ bằng miệng
của mình, mà còn bằng tâm của mình. Nắm lấy là trì, hết lòng là nhất tâm. Nắm lấy
danh hiệu, không phải bằng trí năng, hoặc bằng miệng lưỡi, mà bằng trái tim.
Tâm của mình phải chuyên nhất. Mình phải để tâm vào danh hiệu đó, phải làm cho
danh hiệu của Phật có mặt trong tâm mình. Khi niệm ‘‘Nam mô A Di Đà Phật’’ mà tâm ta
nghĩ đến chuyện khác, thì đó là niệm danh hiệu suông, cũng giống như vỏ trấu
không có hạt gạo ở trong. Đó là hạt lúa lép, không thể nấu thành cơm được. Niệm
Phật mà không có nội dung, gọi là niệm Phật không nhất tâm. Niệm Phật có nhất
tâm thì gọi là niệm Phật có nội dung. Câu ‘’Nhất tâm bất loạn’’ hết sức quan trọng.
Niệm Phật phải đạt đến nhất tâm bất loạn. Nghĩa là lúc niệm Phật, tâm ta ngưng
tụ vào danh hiệu của Phật mà không nghĩ đến bất cứ chuyện gì khác, không nghĩ đến
chuyện nấu cơm, chuyện nấu nước, chuyện thắp đèn, chuyện quá khứ, chuyện tương
lai. Niệm Phật chỉ để niệm Phật mà thôi. Thành tựu sự niệm Phật nhất tâm bất loạn
là một quá trình thực tập. Ban đầu tâm còn tán loạn, nhưng ta đừng mất kiên nhẫn.
Nhiều khi ta niệm mười tiếng, mà chín tiếng lạc vào vọng tưởng, chỉ còn lại một
tiếng có chánh niệm; cũng còn đỡ hơn không có tiếng nào. Ngày mai ta niệm mười
tiếng, thì có thể có được hai tiếng trong chánh niệm. Như vậy đã là tiến bộ rồi
‘‘Khi nghe danh hiệu Phật A Di Đà, thì phải nắm
lấy danh hiệu ấy, mà hết lòng thực tập quán niệm theo phương pháp ‘nhất tâm bất
loạn’ hoặc ở trong vòng một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu
ngày, bảy ngày.Người ấy, đến khi lâm chung sẽ thấy được Phật A Di Đà và các vị
thánh chúng nước ấy hiện ra trước mặt.’’
Đó là phước đức
tối thiểu mà khi lâm chung ta được nương nhờ, vì giây phút lâm chung là giây
phút hết sức quan trọng và cực kỳ nguy hiểm của đời ta. Lúc ấy ta được dẫn dắt
bởi năng lượng thiện hoặc ác do ta tạo ra trong đời sống. Nếu ta thường niệm Phật
có chánh niệm thì vào giờ phút lâm chung, tâm thức ta sẽ vững vàng để đưa ta đi
về hướng thiện, và gặp được các bậc ‘‘thượng thiện nhân’’. Còn nếu không được
như vậy thì ta sẽ đi về tam ác đạo. Giờ phút lâm chung ta cần có tăng thân bên
cạnh để hộ niệm cho ta, và ta biết rằng, được hộ niệm như vậy thì tâm ta vững
vàng để hướng về một cảnh giới tốt đẹp. Nếu thực tập giỏi thì ta không phải đợi
giờ phút lâm chung mới đến được Tịnh Độ mà trong mỗi giây phút niệm Phật ta đã
có Tịnh Độ bên mình. Khi ta bắt đầu niệm Phật và niệm cõi Cực Lạc thì tâm ta
lúc đó có Phật và có cõi Cực Lạc.
Đoạn kinh thứ 15:
1. 原文本
舍利弗。我見是利,故說此言。若有眾生,聞是說者,應當發願,生彼國土。
2.
Dịch âm
Xá Lợi Phất!
Ngã kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn. Nhược hữu chúng sanh, văn thị thuyết giả,
ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ.
3. Dịch nghĩa
‘‘Xá Lợi Phất,
vì thấy được điều lợi ích lớn lao này cho nên tôi muốn nói với quý vị rằng, những
ai đang nghe tôi nói đây hãy nên phát nguyện sanh về cõi ấy.’’
4.Chú giải:
Ngã kiến thị lợi (我見是利), ta thấy điều lợi này. Ngã là lời tự
xưng của Đức Phật.
Cố thuyết (故說此言), cho nên nói à chữ dùng để tiếp ý
câu trên.
Thử ngôn (此言),
lời này chỉ giáo pháp Niệm Phật.
Văn thị thuyết giả (聞是說者), nghe nói như vậy
Ưng đương (應當), phải nên.
Tâm lý Đức Thế Tôn cũng là tâm lý của chúng
ta. Chúng ta cần có một khung cảnh an toàn và hạnh phúc để chuyển hóa khổ đau,
nên khi gặp ai đau khổ là ta giới thiệu khung cảnh an toàn và hạnh phúc ấy cho
họ để họ có dịp đến đó tu học. Kinh A Di Đà là kinh đức Thế Tôn giới thiệu quê
hương Tịnh Độ cho chúng ta. Ngài bao lượt đinh ninh dặn dò, khuyên lơn những
mong người nghe mau phát tâm nguyện cầu vãng sanh, đừng bỏ lỡ đại lợi ích thù
thắng này.
Đoạn kinh thứ 16:
1. 原文本
舍利弗。如我今者,讚歎阿彌陀佛,不可思議功德之利。東方亦有阿 閦 鞞 佛、須彌相佛、大須彌佛、須彌光佛、妙音佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國,出廣長舌相,遍覆三千大千世界,說誠實言:『汝等眾生,當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
舍利弗。南方世界,有日月燈佛、名聞光佛、大焰肩佛、須彌燈佛、無量精進佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國,出廣長舌相,遍覆三千大千世界,說誠實言:汝等眾生,當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
舍利弗。西方世界,有無量壽佛、無量相佛、無量幢佛、大光佛、大明佛、寶相佛、淨光佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國,出廣長舌相,遍覆三千大千世界,說誠實言:『汝等眾生,當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
舍利弗。北方世界,有焰肩佛、最勝音佛、難沮佛、日生佛、網明佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國,出廣長舌相,遍覆三千大千世界,說誠實言:『汝等眾生,當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
舍利弗。下方世界,有師子佛、名聞佛、名光佛、達摩佛、法幢佛、持法佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國,出廣長舌相,遍覆三千大千世界,說誠實言:『汝等眾生,當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
舍利弗。上方世界,有梵音佛、宿王佛、香上佛、香光佛、大焰肩佛、雜色寶華嚴身佛、娑羅樹王佛、寶華德佛、見一切義佛、如須彌山佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國,出廣長舌相,遍覆三千大千世界,說誠實言:汝等眾生,當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
2.
Dịch âm
" Xá Lợi
Phất! Như ngã kim giả, tán thán A Di Đà Phật bất khả tư nghì công đức chi lợi.
Đông phương diệc hữu A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di
Quang Phật, Diệu Âm Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc,
xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết
thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị: Xưng Tán Bất Khả Tư
Nghì Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh".
Xá Lợi Phất!
Nam phương thế giới hữu Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm
Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật, như thị đẳng hằng hà sa số
chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại
thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị:
Xưng Tán Bất Khả Tư Nghì Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh".
Xá Lợi Phất!
Tây phương thế giới hữu Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng
Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật, như thị đẳng
hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú
tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng chúng
sanh đương tín thị: Xưng Tán Bất Khả Tư
Nghì Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh".
Xá Lợi Phất!
Bắc phương thế giới hữu Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật
Sanh Phật, Võng Minh Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc,
xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế-giới, thuyết
thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị: Xưng Tán Bất Khả Tư
Nghì Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh".
Xá Lợi Phất!
Hạ phương thế giới hữu Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật,
Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ
quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới,
thuyết thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị: Xưng Tán Bất
Khả Tư Nghì Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh".
Xá Lợi Phất!
Thượng phương thế giới hữu Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật,
Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Ta La
Thọ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật,
như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng,
biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng
chúng sanh đương tín thị: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghì Công Đức Nhất Thiết Chư Phật
Sở Hộ Niệm Kinh".
3. Dịch nghĩa
Này Xá Lợi Phất!
Nếu trong giây phút hiện tại, tôi đang ca ngợi sự lợi ích và công đức không thể
nghĩ bàn của Phật A Di Đà, thì tại phương Đông, phương Nam, phương Tây, phương
Bắc, phương Thượng và phương Hạ, các Phật đông như số cát sông Hằng, vị nào
cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của quý vị,
bao trùm cả thế giới Tam thiên đại thiên, và thốt lên lời tuyên bố thành thật của
mình: Này toàn thể chúng sanh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà
các Phật trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.’’
"Xá Lợi
Phất, nếu trong giờ phút hiện tại tôi đang ca ngợi những lợi ích và công đức
không thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà thì tại phương Đông có các vị Phật A Súc Bệ,
Phật Tu Di Tướng, Phật Đại Tu Di, Phật Tu Di Quang, Phật Diệu Âm và các vị Phật
khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu
lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và
thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: 'Này toàn thể chúng sinh các cõi,
quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Phật trong vũ trụ đều đem hết
lòng xưng tán và hộ niệm.'
'Xá Lợi Phất,
tại phương Nam có các vị Phật Nhựt Nguyệt Đăng, Phật Danh Văn Quang, Phật Đại
Diệm Kiên, Phật Tu Di Đăng, Phật Vô Lượng Tinh Tấn và các vị Phật khác đông như
số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi
rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời
tuyên bố thành thật của mình: 'Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên
tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Phật trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng
tán và hộ niệm.'
'Xá Lợi Phất,
tại phương Tây có các vị Phật Vô Lượng Thọ, Phật Vô Lượng Tướng, Phật Vô Lượng
Tràng, Phật Đại Quang, Phật Đại Minh, Phật Bảo Tướng, Phật Tịnh Quang và các vị
Phật khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của
mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại
thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: 'Này toàn thể chúng sinh
các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Phật trong vũ trụ
đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.'
'Xá Lợi Phất,
tại phương Bắc có các vị Phật Diệm Kiên, Phật Tối Thắng Âm, Phật Nan Trở, Phật
Nhựt Sanh, Phật Võng Minh và các vị Phật khác đông như số cát sông Hằng, vị nào
cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị,
bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của
mình: 'Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh
mà tất cả các Phật trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.'
'Xá Lợi Phất,
tại phương Hạ có các vị Phật Sư Tử, Phật Danh Văn, Phật Danh Quang, Phật Đạt
Ma, Phật Pháp Tràng, Phật Trì Pháp và các vị Phật khác đông như số cát sông Hằng,
vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các
vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật
của mình: 'Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này,
kinh mà tất cả các Phật trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.'
'Xá Lợi Phất,
tại phương Thượng có các vị Phật Phạm Âm, Phật Tú Vương, Phật Hương Thượng, Phật
Hương Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân, Phật Ta La
Thọ Vương, Phật Bảo Hoa Đức, Phật Kiến Nhất Thiết Nghĩa, Phật Như Tu Di Sơn và
các vị Phật đông khác như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của
mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại
thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: 'Này toàn thể chúng sinh
các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Phật trong vũ trụ
đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.'
4.Chú giải:
Bất khả tư nghị ( 不可思議), chẳng diễn tả, lý luận được.
Hằng hà sa số (恆河沙數), nhiều như số cát trong sông Hằng.
Quảng trường thiệt tướng (廣長舌相), tướng lưỡi rộng dài
Biến phú(遍覆), che phủ khắp cả.
Thành thực ngôn ( 誠實言), lời chân thực. chẳng hư vọng.
Hộ Niệm ( 護念), gìn giữ, yêu mến.
Trong đoạn
kinh này, Phật nói rằng không những ngài đang tán dương cõi Tịnh Độ của Phật A
Di Đà mà ngài còn khuyến khích chúng sanh các cõi khác phát nguyện sinh về cõi ấy.
Các vị Phật khác trong thế giới mười phương, ít nhất là sáu phương, đều đang
làm như Ngài cả. Kinh A Di Đà là một kinh rất mầu nhiệm, cõi A Di Đà là một nơi
lý tưởng để thực tập đời sống giác ngộ, và Phật A Di Đà là một bậc đạo sư lý tưởng.
Vì vậy tất cả các vị Phật trong mười phương, vị nào cũng nâng đỡ và yểm trợ cho
nhau. Vị Phật nào cũng có đạo tràng và có Tịnh Độ cả. Các Ngài có đạo tràng và
có Tịnh Độ để yểm trợ cho chúng sanh tu học, và các ngài cũng yểm trợ cho nhau
trong việc thành tựu lý tưởng giác ngộ. Đọc đoạn kinh này, ta thấy các vị Phật
cư xử với nhau hết sức cao đẹp. Nói đến Cực Lạc là các đức Thế Tôn ở các quốc độ
khác đều đồng thanh khen ngợi rằng cõi Cực Lạc là cõi rất đẹp, đức Phật A Di Đà
rất giỏi. Các Ngài ca ngợi nhau một cách hết lòng, chứ không phải khen nhau bằng
những từ ngoại giao. Các ngài không bao giờ nói xấu nhau, như chùa này nói xấu
chùa khác. Các ngài đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài
của các ngài. Người có lưỡi rộng và dài là người nói thật. Cái lưỡi của Phật
dài đến nỗi le ra một cái là bao trùm được hết tam thiên đại thiên thế giới.
Đây là ngôn từ đại thi sĩ. Cái lưỡi của chúng ta rất ngắn, cái lưỡi của chúng ta
rất nhỏ, cho nên ta không thể dùng lưỡi của chúng ta mà tạo ra được nhiều hạnh
phúc, như cái lưỡi của các đức Thế Tôn. Tướng lưỡi rộng dài là một trong ba
mươi hai tướng tốt của đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nào cũng có ba mươi hai tướng đẹp.
Tướng đẹp thứ hai mươi bảy là tướng lưỡi rộng dài. Và một người có cái lưỡi như
vậy thì không thể nói ngang ngược, nói châm chích, nói hai chiều, nói thêu dệt.
Chỉ có cái lưỡi rộng dài mới nói ra được những điều vi diệu thôi. Hãy quán tưởng
Phật A Di Đà đang ngồi trên cõi Cực Lạc mà thấy các Phật xung quanh đều nói tốt
về mình. Điều này Phật A Di Đà thấy cũng bình thường thôi, không tự hào tự phụ,
vì đã là Phật, thì vị nào cũng ủng hộ cho nhau hết lòng cả.
Đoạn kinh thứ 17:
1. 原文本
舍利弗。於汝意云何?何故名為一切諸佛所護念經?
舍利弗。若有善男子、善女人,聞是經受持者,及聞諸佛名者,是諸善男子、善女人,皆為一切諸佛之所護念,皆得不退轉於阿耨多羅三藐三菩提。是故舍利弗,汝等皆當信受我語,及諸佛所說。
2.
Dịch âm
Xá Lợi Phất!
Ư nhữ ý vân hà, hà cố danh vi "Nhất Thiết Chư Phật sở hộ niệm Kinh"?
Xá Lợi Phất!
Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thị kinh thọ trì giả, cập văn chư Phật
danh giả, thị chư thiện nam tử, thiện nữ nhân, giai vi nhất thiết chư Phật chi
sở hộ niệm, giai đắc bất thối chuyển, ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Thị cố, Xá Lợi Phất! Nhữ đẳng giai đương, tín
thọ ngã ngữ, cập chư Phật sở thuyết.
3. Dịch nghĩa
Này Xá Lợi Phất,
thầy nghĩ sao? Tại sao gọi Kinh này là Kinh mà tất cả các vị Phật đều đem hết
lòng xưng tán và hộ niệm? Sở dĩ như thế là vì những người con trai hoặc con gái
nhà lành nào, nghe được vị Phật A Di Đà, hết lòng hành trì và thực tập theo
phương pháp niệm Phật, thì những người ấy được tất cả các vị Phật hộ niệm, và tất
cả đạt tới địa vị cao tột không còn bị thối chuyển. Vì vậy, quý vị hãy tin vào
những lời tôi đang nói và cũng là những lời chư Phật đang nói.’’
4.Chú giải:
Trong đoạn kinh này, ta thấy ẩn dấu một hạt minh châu. Phương
pháp đó gọi là ‘‘nhất hạnh tam muội’’. Tam muội này là thiền định theo phương
pháp Niệm Phật Tam Muội. Khi thiền tập đạt được tam muội rồi, thì bấy giờ ta niệm
Phật nào cũng được, miễn là mình niệm Phật mà thôi. Ta niệm Phật A Di Đà cũng
được, niệm Phật Thích Ca cũng được, niệm Phật Di Lặc cũng được, ta chỉ cần niệm
một vị Phật thôi, mà nếu đạt đến nhất tâm, là ta có định. Khi ta đã có định ở
nơi một vị Phật, thì thông qua vị Phật đó, ta có thể tiếp xúc được hằng hà sa số
chư Phật, vì một vị Phật là tất cả các vị Phật và tất cả các vị Phật là một vị
Phật. Cho nên, niệm Phật A Di Đà cũng là niệm Phật Thích Ca, niệm Phật Thích Ca
cũng là niệm Phật Ca Diếp, niệm Phật Ca Diếp cũng là niệm Phật Tỳ Bà Thi,
v.v...Vì vậy, niệm Phật này cũng là niệm Phật kia, ta đang kính lễ Phật này
cũng có nghĩa là ta đang kính lễ Phật kia, cái thấy đó, cái định đó được gọi là
nhất hạnh tam muội.
Nhược hữu (若有), nếu có. Từ dùng để diễn tả ý giả định.
Thiện nam tử, thiện nữ nhân (善男子善女人), Những người nam, người nữ có thiện
tâm.
Văn thị kinh, thọ trì giả (聞是經受持者), lắng nghe, kinh này tin tưởng, hành
trì.
Cập văn chư Phật danh giả (及聞諸佛名者), và nghe danh hiệu của chư Phật.
Giai vi nhất thiết chư Phật chi sở hộ niệm (皆為一切諸佛之所護念) đều đương nhiên được chư Phật hộ niệm.
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (阿耨多羅三藐三菩提), Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Nhữ đẳng (汝等),
tất cả. Toàn bộ đại
chúng hiện diện trong pháp hội cũng như toàn bộ chúng sanh được nghe kinh này
trong đời tương lai.
Giai đương tín thọ (皆當信受), đều nên tin và nghe
theo.
Ngã ngữ ( 我語), lời của tôi. Ngã là chữ Đức Phật Thích Ca dùng để
tự xưng. Chữ “ngữ” chỉ toàn bộ những lời dạy trong pháp hội này.
Đoạn kinh thứ 18:
1. 原文本
舍利弗。若有人已發願、今發願、當發願,欲生阿彌陀佛國者,是諸人等,皆得不退轉於阿耨多羅三藐三菩提,於彼國土,若已生、若今生、若當生。是故舍利弗,諸善男子、善女人,若有信者,應當發願,生彼國土。
2.
Dịch âm
Xá Lợi Phất! Nhược hữu nhân, dĩ phát nguyện,
kim phát nguyện, đương phát nguyện, dục sanh A Di Đà Phật quốc giả, thị chư
nhân đẳng, giai đắc bất thối chuyển, ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, ư bỉ quốc
độ, nhược dĩ sanh, nhược kim sanh, nhược đương sanh.
Thị cố, Xá Lợi
Phất! Chư thiện nam tử, thiện nữ nhân, nhược hữu
tín giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ.
Vị chư chúng
sanh, thuyết thị nhất thiết thế gian nan tín chi pháp.
3. Dịch nghĩa
Xá Lợi Phất,
nếu có người đã, đang hay sẽ phát nguyện sinh về cõi Phật A Di Đà, thì người ấy
ngay trong giờ phút phát nguyện, đã đạt được quả vị giác ngộ cao tột không thối
chuyển và đã có mặt ở nước ấy rồi, không kể đến sự kiện là người ấy chưa sanh,
đang sanh hay sẽ sanh về đó.
Vì thế nên Xá
Lợi Phất! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân nếu có ai tin tưởng thì hãy nên phát
nguyện sanh về cõi nước ấy
4.Chú giải
‘‘Xá Lợi Phất,
nếu có người đã, đang hay sẽ phát nguyện sanh về cõi Phật A Di Đà.’’ Ta có muốn
sanh về Cực Lạc hay không? Tất cả đều do ta. Ta có hai hoàn cảnh. Một là hoàn cảnh
ta đang hệ lụy khổ đau và hai là tuy ta đang ở trong hoàn cảnh ấy nhưng ta đã
có tâm muốn thoát ra khỏi hoàn cảnh ấy. Vì vậy vấn đề là ta có muốn thoát hay
không muốn thoát. Nếu ta muốn thoát, thì ta sẽ thoát được. Và nếu ta không muốn
thoát, thì ta sẽ không bao giờ thoát. Nghĩa là ngay lúc tâm mình phát nguyện
thì mình đã có mặt ở Tịnh Độ. Nếu có người đã, đang hay sẽ phát nguyện sanh về
nước Phật A Di Đà, thì người ấy ngay trong giờ phút phát nguyện, đã đạt tới quả
vị cao tột, không còn thối chuyển, tức là không còn bị sa đọa. Và tại sao người
đó không bị sa đọa? Là do sự quyết tâm từ bỏ cõi uế độ của người đó. Ngay lúc
quyết tâm đó, tâm của họ đã sanh vào Tịnh Độ, sanh vào địa vị không thối chuyển.
Một khi ta đã sanh vào địa vị không thối chuyển, thì ta không còn sa đọa nữa.
Nên kinh nói nguyện sanh Tịnh độ là đã sanh rồi, không kể đến sự kiện là người ấy
đã sanh, đang sanh hay sẽ sanh về nước ấy. Trong hoàn cảnh hệ lụy đau thương, nếu
mình có ý muốn thoát ly là mình có thể thoát ly ngay ở trong tâm của mình, và
ngay trong tâm của mình đã có cõi Tịnh Độ. Như vậy là tuy còn đứng ngay tại chỗ
mà mình đã sanh về Cực Lạc.Và mình có thể quay lại cứu vớt những người đang bị
chìm đắm trong khổ lụy.
Đoạn kinh thứ 19:
1. 原文本
舍利弗,如我今者,稱讚諸佛不可思議功德,彼諸佛等,亦稱讚我不可思議功德,而作是言:釋迦牟尼佛能為甚難希有之事,能於娑婆國土,五濁惡世,劫濁、見濁、煩惱濁、眾生濁、命濁中,得阿耨多羅三藐三菩提。為諸眾生,說是一切世間難信之法。
舍利弗。當知我於五濁惡世,行此難事,得阿耨多羅三藐三菩提,為一切世間說此難信之法,是為甚難。
佛說此經已,舍利弗,及諸比丘,一切世間天人阿修羅等,聞佛所說,歡喜信受,作禮而去。
2.
Dịch âm
Xá Lợi Phất!
Như ngã kim giả, xưng tán chư Phật bất khả tư nghì công đức, bỉ chư Phật đẳng,
diệc xưng tán ngã bất khả tư nghì công đức, nhi tác thị ngôn: "Thích-ca
Mâu-ni Phật năng vi thậm nan, hy hữu chi sự, năng ư Ta-bà quốc độ, ngũ trược ác
thế: kiếp trược, kiến trược, phiền não
trược, chúng-sanh trược, mạng trược trung, đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-Bồ-Đề,
vị chư chúng-sanh thuyết thị, nhất thiết thế-giới nan tín chi pháp".
Xá Lợi Phất!
Đương tri ngã, ư ngũ trược ác thế, hành thử nan sự, đắc a-nậu-đa-la tam-miệu
tam-Bồ-Đề, vi nhất thiết thế-giới thuyết thử, nan tín chi pháp, thị vi thậm
nan."
Phật thuyết
thử Kinh dĩ, Xá Lợi Phất cập chư Tỳ-kheo, nhất thiết thế gian: Thiên, Nhân,
A-tu-la đẳng, văn Phật sở thuyết, hoan hỷ tín thọ, tác lễ nhi khứ.
3. Dịch nghĩa
Xá Lợi Phất,
trong khi tôi đang ca ngợi công đức không thể nghĩ bàn của chư Phật thì chư Phật
cũng xưng tán công đức không thể nghĩ bàn của tôi’’.
Xá Lợi Phất! Hãy biết rằng tôi ở trong đời ác ngũ trược, làm
được việc khó khăn này : đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vì hết thảy thế
gian nói pháp khó tin này, thật là điều rất khó!
Phật nói kinh này xong, Xá Lợi Phất và các tỳ kheo, hết thảy
thế gian: trời, người, A Tu La v.v... nghe lời Phật dạy, hoan hỷ tin nhận, làm
lễ mà lui
4.Chú giải:
Bất khả tư nghị (不可思議), không thể nghĩ bàn. Tư ( 思), có nghĩa là nghĩ. Nghị ( 議), có nghĩa là bàn luận.
Ngũ trược (五濁), năm loại ô nhiễm. Năm yếu tố vẩn đục.
Tín thọ (信受), tin tưởng, hành trì.
Tác lễ ( 作禮), biểu thị lòng tôn kính.
Nhi khứ (而去), lui về.
Ở đây, ta thấy
các đức Như Lai luôn luôn yểm trợ nhau, liên đới yểm trợ nhau trên con đường hoằng
hóa. Công đức không thể nghĩ bàn tức là đối với những thực hiện của một bậc
giác ngộ, ta không thể dùng tư tưởng mà hiểu thấu được, không thể dùng ngôn từ
mà diễn tả được. ‘‘Phật Thích Ca Mâu Ni thật là hiếm có. Ngay trong cõi Ta bà đầy
năm yếu tố ô nhiễm là kiếp trược, phiền não trược, chúng sanh trược, kiến trược
và mạn trược mà ngài có thể chứng đắc được quả vị giác ngộ vô thượng và còn
tuyên thuyết được cho chúng sanh những pháp môn mà bất kỳ ở đâu, mới nghe qua
người ta cũng rất khó mà phát sinh niềm tin.’’
Có những pháp
môn khi thuyết ra thì được người ta tin ngay nhưng cũng có những pháp môn khi
thuyết ra người ta thấy rất khó tin.Pháp môn Tịnh độ chủ trương có một cõi ở
Tây phương tên là ‘‘cõi Cực Lạc’’ và một vị Phật tên A Di Đà đang thuyết pháp
và trong cõi đó có vô lượng vô số người đang sinh hoạt với nhau một cách rất là
hạnh phúc, là một pháp môn khó tin. Nhưng giáo lý Tịnh độ không phải là giáo lý
khó tin duy nhất. Nhiều giáo lý khác của đức Thích Ca, kể cả những giáo lý căn
bản, cũng rất khó tin. Ví dụ giáo lý vô ngã. Tất cả mọi người đang tin rằng họ
có một cái ngã. Vậy mà đức Thế Tôn nói rằng làm gì có cái ngã đó. Giáo lý vô
ngã đi ngược lại với nhận thức thông thường của cả một xã hội. Đức Thích Ca Mâu
Ni nói rằng không có một cái ngã đích thực. Vì vậy, giáo lý vô ngã ngay từ đó
là một giáo lý khó tin. Giáo lý về ‘‘không’’ cũng vậy. Bông hoa này, cái bàn
này và con người này đều được diễn bày là ‘‘không’’. Điều đó cũng khó tin. Mỗi
pháp đều có hình tướng mà đức Thế Tôn lại nói rằng thực tại là vô tướng, điều
đó cũng là điều khó tin.
Cho nên không
phải chỉ có giáo lý Tịnh độ mới khó tin mà cả những giáo lý căn bản do đức Thế
Tôn thuyết ra đều là khó tin cả. Nếu không chịu quán chiếu sâu sắc thì làm sao
ta có được niềm tin. Niềm tin có được là nhờ sự quán chiếu sâu sắc. Mới nghe
qua mà tin liền thì chuyện đó khó mà xẩy ra, nên ta mới gọi giáo lý này là giáo
lý khó tin. Chư Phật trong mười phương đã khen ngợi đức Thích Ca Mâu Ni trong hai
điểm:
Điểm thứ nhất:
Ở ngay trong hoàn cảnh khó khăn này mà thành Phật được và giáo hóa được.
Điểm thứ hai:
Những giáo lý rất khó tin mà đức Thích Ca Mâu Ni đã tuyên thuyết được và thuyết
phục được con người tin theo.
‘‘Xá Lợi Phất,
thầy nên hiểu cho rằng, cư trú trong thế giới đầy năm loại ô nhiễm này mà đạt tới
quả vị giác ngộ vô thượng và còn diễn giải được cho mọi giới những pháp môn rất
khó tin như pháp môn này, đó là việc làm quả là cực kỳ khó khăn.’’
Chúng ta thấy
được đức Thích Ca Mâu Ni là một con người, một mình một ngựa đi trong chiến trận
đầy dẫy bao nhiêu khó khăn, bao nhiêu nghi ngờ. Ngài đã một mình đánh phá và
tiêu diệt được bao nhiêu chướng ngại của mê tín, của huyền đàm để đưa ra những
chân lý mà lúc ban đầu thuyết ra, người ta thấy khó mà có thể tin được. Vậy mà
đức Thế Tôn đã thành công.
Đoạn kinh
trên cũng nói tới năm loại ô nhiễm và năm loại ô nhiễm đó được gọi là năm loại
ô trược, có nghĩa vẩn đục, không trong sáng. Năm yếu tố ấy làm khổ. Năm yếu tố
vẩn đục ấy là:
Kiếp trược:
Kiếp có nghĩa là một khoảng thời gian, khoảng thời gian ấy có thể là năm mươi
năm, bảy mươi năm hay một trăm năm...Khi ngắn thì gọi là tiểu kiếp, khi vừa vừa
gọi là trung kiếp và khi dài gọi là đại kiếp.
Sở dĩ thời
gian đó gọi là vẩn đục tại vì nó quá ngắn ngủi, nó đầy dẫy vô thường, nó không
có sự ổn định và vững chãi. Vì vậy chúng ta khó mà có được hạnh phúc.Thời gian
quá ngắn ngủi, sống trong cuộc đời, chúng ta không đủ không gian và thời gian để
thực hiện những ước muốn thâm sâu của mình. Chúng ta có thể có ảo tưởng rằng
chúng ta có rất nhiều thời gian và không gian để thực hiện những ước muốn của
chúng ta, nhưng thực sự thì cuộc sống rất vô thường, rất bấp bênh, không có sự ổn
định, tai nạn hay xẩy ra tới tấp và chận đứng đà tiến triển của chúng ta. Chúng
làm cho quá trình thực hiện lý tưởng của ta bị chặn đứng lại nên gọi là kiếp
trược.
Tình trạng
chính trị không có sự ổn định, xã hội nhiều tai nạn, tật bệnh và nghèo đói, khó
cho xã hội tiến triển, đó gọi là kiếp trược.
Yếu tố vẩn đục
thứ hai là kiến trược. Kiến tức là những cái thấy sai lầm, nói đủ là tà kiến. Ví
dụ như sự vật là vô thường mà ta cho là thường còn. Người thương của ta có thể
ngày mai không còn nữa, thế mà ta nghĩ rằng, họ sẽ có mặt với ta suốt đời, hàng
ngàn năm. Thân này không phải là ngã của ta, mà ta cứ cho đó là cái ngã của ta.
Những cái thấy như vậy được gọi là tà kiến.
Tà kiến lại
có năm loại căn bản:
Thân kiến: Cho
rằng ta là thân này, ta đồng nhất ta với thân này. Nếu có cái nhìn như vậy, thì
ta đau khổ lắm. Nhất là khi sắp chết, ta rụng rời, lo sợ. Ta cứ nghĩ rằng khi
thân thể ta tan rã, thì mọi sự nghiệp sẽ cùng với thân thể ta tan rã luôn.Từ có
ta trở thành không, điều này làm cho ta sợ hãi. Sợ hãi hư vô. Thân kiến là cái
thấy dại dột như vậy đó. Chính vì thế ta phải giúp cho người đang hấp hối thấy
rõ dược rằng thân này không phải là họ.
Biên kiến: Vướng
vào một bên, một thái cực. Bên này là một bên, và kia là một bên, đó là những cặp
đối nghịch với nhau, như có - không, thường - đoạn, một - nhiều, tới - lui. Tin
vào ý niệm ‘‘một’’ là một biên kiến, tin vào ý niệm ‘‘nhiều’’ là một biên kiến
khác. Kẹt vào bên này cũng là biên kiến, kẹt vào bên kia cũng là biên kiến. Tin
rằng có sanh cũng là biên kiến, tin rằng có diệt cũng là biên kiến. Kẹt vào những
cặp đối nghịch nhau là biên kiến.
Ví dụ tin rằng
ta là một cái gì thường hằng, niềm tin ấy là một biên kiến. Tin rằng sau khi chết
ta hoàn toàn đoạn diệt, đó cũng là một biên kiến khác.
Tà kiến: Những
cái thấy đảo ngược. Ví dụ khổ đau mà ta cho là hạnh phúc, hệ lụy mà tin là tự
do, trắng mà ta nghĩ là đen, ác mà ta cho là thiện...
Cái vô thường
mà cho là cái thường, cái thường mà cho là cái vô thường, khổ mà cho là lạc, lạc
mà cho là khổ, cái không phải ngã mà cho là ngã, cái ngã mà cho là không ngã,
cái an tịnh mà cho là không an tịnh, cái không phải an tịnh mà cho là an tịnh,
v.vv... Những cái thấy ngược như vậy gọi là tà kiến.
Thứ tư là Kiến
thủ kiến: kẹt vào một ý tưởng, một quan điểm. Chữ ‘‘thủ’’ ở đây có nghĩa là bám
víu, là kẹt vào. Chữ ‘‘kiến’’ ở đây là kiến thức, ý niệm, nhận thức. Khi ta có
một nhận thức rồi thì ta có khuynh hướng cho nhận thức đó là chân lý tuyệt đối.
Kẹt vào cái đó và không buông nó ra được nữa thì gọi là kiến thủ kiến. Ví dụ
anh học được cách làm đậu hủ và anh nghĩ rằng cách làm đậu hủ của anh là duy nhất
hoặc hay nhất trên thế giới. Anh không thấy có nhiều người làm đậu hủ hay hơn
và đậu hủ của họ ngon hơn. Đó là kiến thủ.
Thứ năm là Giới
cấm thủ kiến. Giới đây là những kiêng cử, những cấm kỵ, những hình thức nghi lễ,
những giáo điều hoặc những tín điều mà mình bị kẹt vào.
Phiền não trược
là những thứ làm cho tâm ta bị vẩn đục như tham lam, sân hận, si mê, hiếu danh,
kiêu mạn... Ở cõi Cực Lạc, không có những thứ phiền não ấy, hoặc có rất ít.
Chúng sanh
trược tức là những lỗi lầm tội ác của chúng sinh như bất hiếu, không chịu giữ
giới, ganh tỵ lẫn nhau, không hành xử bình đẳng, phân chia thành từng giai cấp
để bóc lột lẫn nhau, cấu xé lẫn nhau.
Cuối cùng là
mạng trược. Mạng trược ở đây tức là sự đi vòng quanh, là sự chìm đắm ở trong
sanh tử luân hồi.
Xin cảm ơn
quý Phật tử đã dành thời gian đọc chú giải Phật thuyết A Di Đà Kinh. Nam Mô A Di Đà
Phật.
Hoàng Phước Đại, Đồng An (17/ 1/
2015)
Nhận xét
Đăng nhận xét