Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh ( Kết )
Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh ( Kết )
Hán văn
故 知 般 若 波 羅 蜜 多。是 大 神 咒 。是 大 明 咒 。是 無 上 咒。是 無 等 等 咒 。能 除 一 切 苦。真 實 不 虛 。故 說 般 若 波 羅 蜜 多 咒。即 說 咒 曰。
揭 諦
揭 諦。 波 羅 揭 諦 。波 羅 僧 揭 諦。菩 提 薩 婆 訶。
Âm Nôm
Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại
minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ,
chân thật bất hư.
Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề
tát bà ha.
Dịch Việt
Vậy nên phải biết rằng, Bát Nhã Ba La Mật là
linh chú đại thần, là linh chú đại minh, là linh chú vô thượng, là
linh chú tuyệt đỉnh, là chân lý có năng lực tieu trừ tất cả mọi khổ
nạn.
Cho nên ta muốn câu thần chú độ trì Bát Nhã Ba La Mật
Gate gate paragate parasamgate bodhi svaha
Dịch Anh
"Therefore, one should know that Perfect
Understanding is a great mantra, is the highest mantra, is the unequalled
mantra, the destroyer of all suffering, the incorrup tible truth. This is the
mantra: Gate gate paragate parasamgate bodhi svaha."
Chú giải
Chú, tiếng Phạn là Dharani, có nghĩa một câu nói thoát
ra trong trạng thái hết sức vững chãi. Thân, tâm và ngôn ngữ hoà hợp lại trong
một định lực thật lớn, một câu nói có thể thay đổi được hoàn cảnh thì gọi là
linh chú.
Khi mình quán chiếu vào điều gì, mình sẽ nắm
bắt chúng rõ ràng như giữ trái cam trong tay. Bồ Tát Quán Thế Âm khi quán
chiếu năm uẩn, ngài nhìn thấy bản chất của tương tức của năm uẩn và ngài đã vượt qua mọi nỗi
đau. Bồ Tát Quán Thế Âm đã hoàn toàn được giải thoát. Đó là trạng thái
thiền định, an lạc, giải thoát, vì vậy mà Bồ Tát Quán Thế Âm thốt ra một điều quan trọng. Đó là lý do tại
sao Bồ Tát Quán Thế Âm nói ra câu thần
chú.
Thần chú Quán Thế Âm là " Gate Gate paragate
parasamgate bodhi svaha." Đọc theo âm hán là yết đế, yết đế, ba la
yết đế, bồ đề tát sa va. Gate Gate:
có nghĩa là qua rồi. Paragate: qua bên kia rồi. Parasamgate: tất cả vượt qua
bên kia rồi. Bodhi: tỉnh thức. Svaha: tiếng reo gọi vui mừng có năng lực thúc đẩy,
tương đương với tiếng chào mừng hoặc hò dô ta của mình vậy.
Đó là những gì các vị Bồ Tát thốt ra. Khi mình lắng
nghe thần chú này, mình nên chú ý, tập trung, từ đó mình mới có thể nhận được
năng lượng từ Bồ Tát Quán Thế Âm. Bản kinh này không chỉ sử dụng để
đọc tụng kinh, đặt trang nghiêm trên bàn thờ để thờ phụng. Mà Tâm Kinh
Bát Nhã Ba La Mật được xem là một công cụ Bồ Tát Quán Thế Âm ban cho Phật
tử để thực hiện sự giải thoát cho bản thân và cho tất cả chúng sinh. Nó giống
cái cày, cái cái bừa ban cho người nông dân.
Trong đạo Phật có ba loại bố thí. Bố thí thứ
nhất là bố thí vật. Thứ hai là bố thí trí tuệ, hay còn gọi là Pháp
thí. Thứ ba, là loại bố thí cao nhất, vô úy thí. Quán Thế Âm Bồ Tát là
vị bố thí cho chúng ta Vô úy thí, giúp chúng ta tự giải phóng khỏi nỗi sợ
hãi. Đây là tâm Bát nhã.
Tâm Kinh Bát nhã cho mình một nền tảng vững chắc
vô úy thí, thực hành an lạc cho bản thân, vượt qua nỗi sợ hãi của sinh tử.
Trong ánh sáng của tánh không, tất cả mọi vật đều có liên hệ với nhau,
mỗi vật đều có trách nhiệm với mọi điều xảy ra trong cuộc sống. Nụ cười
mình đang nở trên môi, nó không những làm cho bản thân mình an lạc mà
những người xung quanh mình cũng an lạc, cả thế giới cũng an lạc.
Phật tử khi hồi hướng đều đọc câu nguyện cho thế giới hòa bình, cho
chúng sanh an lạc. Nhưng nếu mình không an lạc, không nở nổi nụ cười
thân mình không an lạc hòa bình thì làm sao mình làm cho mọi người
xung quanh nở nụ cười và an lạc được.
Mỗi hơi, mỗi bước đi, mỗi hành động, mỗi nụ cười,
đều có đóng góp tích cực cho sự sống an lạc của mình và của mọi
loài. Cho nên mình phải sống một cuộc sống có ý nghĩa ngay trong
hiện tại, ngay trong phút giây này.
Cảm ơn các bạn
đã đọc Tâm Kinh Bát Nhã Ba La Mật và những chú giải.
Bây giờ xin các bạn đõ lại toàn bộ bản kinh hoặc
bằng bản Hán Tạng, Hán Nôm, nghĩa Việt, hoặc Anh văn dưới đây :
Bản Hán
tạng
般 若 波 羅 蜜 多 心 經◎
觀 自 在 菩 薩。行 深
般 若 波 羅 蜜 多 時 。照 見 五 蘊 皆 空 。度 一 切 苦 厄。舍 利 子。色
不 異 空。 空 不 異 色。色 即 是 空 。
空 即 是 色。受 想 行 識 亦 復 如 是. 舍 利 子。是 諸 法 空 相 。不 生 不 滅。不 垢 不 淨 。不 增 不 減。是 故 空 中 無 色。無 受 想 行 識。無 眼 耳 鼻 舌 身 意。無 色 聲 香 味 觸 法。無 眼 界 。 乃 至 無 意 識 界 。無 無 明 。亦 無 無 明 盡。乃 至 無 老 死。亦 無 老 死 盡。無 苦 集 滅 道 。無 智 亦 無 得。以 無 所 得 故。菩 提
薩 埵 。依 般 若 波 羅 蜜 多 故。心 無 罣 礙 。無
罣 礙 故。無 有 恐怖。遠 離 顛 倒 夢 想。究 竟 涅 槃。三 世 諸 佛◎。依 般 若 波 羅 蜜
多 故。得 阿 耨 多 羅 三 藐 三 菩 提。故 知 般 若 波 羅 蜜 多。是 大 神 咒 。是 大 明咒 。是 無 上 咒。是 無 等 等 咒 。能 除 一 切 苦。真 實 不 虛 。故 說 般 若 波 羅 蜜 多 咒。即 說 咒曰。揭 諦 揭 諦。 波 羅 揭 諦 。波 羅 僧 揭 諦。菩 提 薩 婆 訶。
Hán Nôm
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời,
chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức
thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt,
bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.
Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức.
Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc
pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.
Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc
vô lão tử tận.
Vô khổ, tập, diệt, đạo.
Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.
Bồ đề tát đõa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái
ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh
Niết bàn.
Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu
đa la Tam miệu Tam bồ đề.
Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại
minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ,
chân thật bất hư.
Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề
tát bà ha.
Bản tiếng
Việt
Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí
tuệ Bát Nhã Ba la mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ
đau ách nạn.
Nầy Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác gì không, không chẳng
khác gì sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều
như thế.
Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh
chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.
Cho nên trong cái không đó, nó không có sắc, không thọ
tưởng hành thức.
Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý. Không có sắc,
thanh, hương vị, xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới.
Không có vô minh,mà cũng không có hết vô minh. Không
có già chết, mà cũng không có hết già chết.
Không có khổ, tập, diệt, đạo.
Không có trí cũng không có đắc, vì không có sở đắc.
Khi vị Bồ Tát nương tựa vào trí tuệ Bát Nhã nầy thì
tâm không còn chướng ngại, vì tâm không chướng ngại nên không còn sợ hãi, xa
lìa được cái điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết Bàn.
Các vị Phật ba đời vì nương theo trí tuệ Bát Nhã nầy
mà đắc quả vô thượng, chánh đẳng chánh giác.
Cho nên phải biết rằng Bát nhã Ba la mật đa là đại thần
chú, là đại minh chú, là chú vô thượng, là chú cao cấp nhất, luôn trừ các khổ
não, chân thật không hư dối.
Cho nên khi nói đến Bát nhã Ba la mật đa, tức là phải
nói câu chú:
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề
tát bà ha.
Bản tiếng Anh
The Bodhisattva Avalokita, while moving in the deep course
of Perfect Understanding, shed light on the five skandhas and found them
equally empty. After this penetration, he overcame all pain.
"Listen, Shariputra, form is emptiness, emptiness
is form, form does not differ from emptiness, emptiness does not differ from
form. The same is true with feelings, perceptions, mental formations, and consciousness.
"Hear, Shariputra, all dharmas are marked with
emptiness; they are neither produced nor destroyed, neither
defiled nor immaculate, neither increasing nor decreasing. Therefore, in
emptiness there is neither form, nor feeling, nor perception, nor mental formations,
nor consciousness; no eye, or ear, or nose, or tongue, or body, or mind, no
form, no sound, no smell, no taste, no touch, no object of mind; no realms
of elements (from eyes to mind-consciousness); no interdependent
origins and no extinction of them (from ignorance to old age and death); no
suffering, no origination of suffering, no extinction of suffering, no path; no
understanding, no attainment.
"Because there is no attainment, the
bodhisattvas,
supported by the Perfection of Understanding, find no obstacles
for their minds. Having no obstacles, they overcome fear, liberating themselves
forever from illusion and realizing perfect Nirvana. All Buddhas in the past,
present, and future, thanks to this Perfect Understanding, arrive at full,
right, and universal Enlightenment.
"Therefore, one should know that Perfect Understanding
is a great mantra, is the highest mantra, is the unequalled mantra, the
destroyer of all suffering, the incorruptible truth. A mantra of Prajnaparamita
should therefore be proclaimed. This is the mantra:
"Gate gate paragate parasamgate bodhi
svaha."
Nhận xét
Đăng nhận xét