Kinh A Di Đà dịch và chú giải. 1

Kinh A Di Đà dịch và chú giải.
佛說阿彌陀經
Phật thuyết A Di Đà Kinh
Phật giảng Kinh A Di Đà


NamA Di Đà Phật,
Kinh “ Phật thuyết A Di Đà Kinh”, hay còn được gọi là Kinh A Di Đà, là Kinh được Phật tử tụng phổ biến. Kinh A Di Đà thường được in ấn ở bản dịch âm tiếng Hán có nhiều từ Nôm khó hiểu. Phật tử Hoàng Phước Đại, pháp danh Đồng An, biên soạn, dịch thuật chú giải để các Phật tử có thể hiểu rõ hơn lời Phật dạy trong Kinh A Di Đà.
Trong quá trình biên soạn, tôi có sử dụng các dữ liệu từ Đại Tạng Kinh; các tư liệu, các bài giảng của quý thầy để biên soạn được chính xác. Mong quý thầy hoan hỉ.
NamA Di Đà Phật.
Đoạn kinh thứ 1 :
1.   原文本
如是我聞。一時佛在舍衛國,祇樹給孤獨園。與大比丘僧,千二百五十人俱,皆是大阿羅漢,眾所知識:長老舍利弗、摩訶目犍連、摩訶迦葉、摩訶迦旃延、摩訶俱絺羅、離婆多、周利槃陀伽、難陀、阿難陀、羅侯羅、憍梵波提、賓頭盧頗羅墮、迦留陀夷、摩訶劫賓那、薄拘羅、阿那樓馱,如是等諸大弟子。
并諸菩薩摩訶薩:文殊師利法王子、阿逸多菩薩、乾陀訶提菩薩、常精進菩薩,與如是等諸大菩薩。及釋提桓因等,無量諸天大眾俱。
2. Dịch âm
Như thị ngã văn. Nhất thời Phật tại Xá-Vệ quốc, Kỳ thụ Cấp Cô Độc viên, dữ đại Tỳ kheo tăng, thiên nhị bá ngũ thập nhân câu, giai thị đại A La Hán, chúng sở tri thức:
Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Dà, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà, như thị đẳng chư đại đệ tử.
Tinh chö Boà Taùt Ma Ha Taùt: Vaên Thu Sö Lợi, Phaùp vöông töû, A Daä Đa Boà Taùt, Caøn Đaø Ha Đeà Boà Taùt, Thöôøng Tinh Taán Boà Taùt, döõ nhö thò ñaúng chö ñaïi Boà Taùt, caäp Thích Đe Hoaøn Nhaân ñaúng, voâ löôïng chö thieân ñaïi chuùng caâu.
3. Dịch nghĩa
Đây là những điều tôi đã được nghe Phật nói. Một thời Phật còn cư trú  tại nước Xá Vệ, ở tu viện Rừng Kỳ Đà thuộc vườn Thụ Cấp Cô Độc. cùng với các vị đại Tỳ kheo, một ngàn hai trăm năm mươi vị, Đều là những đại A La Hán ai cũng biết đến: Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đà, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lư Đà Di,Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạt Câu La và A Nậu Lâu Đà, là những đệ tử lớn của Phật.
Cùng các vị Bồ Tát đại nhân như Văn Thù, A Dật Đà, Càn Đà Ha Đề, Thường Tinh Tấn, và rất nhiều các vị Bồ Tát lớn như thế, cùng với chư thiên như Thích Đề Hoàn Nhân, nhiều đến vô lượng, đều có mặt.
4. Chú giải
Như vầy tôi nghe, là lời khẳng định của thầy Ananda ( một thị giả của Phật), người đã nghe Phật thuyết giảng và đọc lại kinh này cho đại chúng nghe. Ananda nói đúng nguyên văn những gì thầy Ananda nghe được từ Phật. Thầy Ananda nói với đại chúng rằng Kinh A Di Đà  được Phật thuyết giảng kinh vào thời điềm Phật ở nước  Xá Vệ, tại tu viện thuộc khu rừng có tên là  Rừng Kỳ Đà thuộc vườn Cấp Cô Độc.  Tham dự buổi thuyết giảng này có  một ngàn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ Kheo các vị này đều là các vị đã chứng đắc quá A La Hán, và uy danh đều được mọi người biết đến. Các vị đó là :
Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đà, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lư Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạt Câu La, A Nậu Lâu Đà, các thầy đều là các đệ tử lớn của Phật.
Laïi coù caùc vò ñaïi Boà Taùt nhö: Phaùp Vöông Töû, Vaên Thù Sö Lợi, Boà Taùt A Dật Đa, Boà Taùt Caøn Đaø Ha
Đ, Boà Taùt Thöôøng Tinh Taán... caùc vò ñaïi Boà Taùt nhö theá, cuøng vôùi vua coõi trôøi laø Ñe Thích vaø voâ soá chö thieân, ñaïi chuùng cuøng quy tuï.
Như thị ngã văn  (如是我聞), dịch là "Như vầy tôi nghe ”,  đây là lời khẳng định của Ananda ( một thị giả của Phật), người đã nghe Phật thuyết giảng và đọc lại kinh này cho đại chúng nghe. Ananda nói đúng nguyên văn những gì ngài nghe được từ Phật.
Nhất thời (一時,) dịch nghĩa là "một thời", nêu thời điểm Phật ( ) thuyết giảng kinh.
Tại Xá Vệ quốc ( 在舍衛國) dịch là ở nước  Xá Vệ,
Kỳ thụ Cấp Cô Độc viên祇樹給孤獨園,) dịch là Rừng Kỳ Đà thuộc vườn Cấp Cô Độc. Trưởng giả Cấp Cô Độc tên thật là Tu Đạt Đa (Sudatta), do ông hay làm từ thiện bố thí, cứu giúp những người nghèo khổ, những người cô độc nên được gọi là Cấp Cô Độc. Cấp Cô Độc muốn mua vườn của Thái tử Kỳ Đà để xây dựng tu viện thỉnh Phật đến thuyết pháp. Thái tử bảo ông đem vàng lót đầy vườn thì Thái tử sẽ bán vườn cho ông. Khi ông trải vàng gần xong, Thái tử vui vẻ bảo thôi đừng chở vàng thêm nữa và Thái tử  xin cúng dường toàn bộ cây cối trong vườn cho  Phật, do đó khu rừng có tên Rừng Kỳ Đà thuộc vườn Cấp Cô Độc.
Tiếp theo đoạn kinh mô tả đại chúng, những người đã đến nghe Phật thuyết pháp.
Dữ đại Tỳ kheo tăng, thiên nhị bá ngũ thập nhân câu (與大比丘僧,千二百五十人俱), dịch là cùng với các vị đại Tỳ Kheo, một ngàn hai trăm năm mươi vị.  Tỳ Kheo (比丘 )  là người thọ và hành trì 250 giới luật, Đại tỳ kheo tăng  (大比丘僧) là những vị đệ tử lớn của Phật.
Giai thị đại A La Hán (皆是大阿羅漢), dịch nghĩa đều là các vị đại A La Hán. Giai thị ( 皆是 ), dịch nghĩa đều là, tất cả là. A La Hán (  阿羅漢) có nghĩa là một người thoát khỏi vòng sinh tử. Họ cùng Đức Phật hoằng pháp mang lại lợi lạc  cho tất cả các cõi trời người.
Chúng sở tri thức ( 眾所知識), được mọi người biết đến.
Trưởng lão Xá Lợi Phất ( 長老舍利弗, Shariputra ). Trưởng lão chỉ người có đức hạnh và tu hành lâu năm. Trưởng lão Xá Lợi Phất, vị thầy  nổi tiểng về trí tuệ siêu việt.
Ma Ha Mục Kiền Liên,  ( 摩訶目犍連、Mahamaudgalyayana). Ma Ha là để tôn xưng các vị có đức lớn và có trí tuệ, là những vị đệ tử lớn, hàng đầu của Phật. Ma Ha Mục Kiền Liên là vị đại đệ tử của Phật, thầy rất giỏi phép thần thông, thầy được công nhận là thần thông đệ nhất trong hàng ngũ các đệ tử Phật.
Ma Ha Ca Diếp, (摩訶迦葉Mahakashyapa ). Thầy Ma Ha Ca Diếp nối tiếng trong số các đệ tử xuất gia của Đức Phật, thực hành khổ hạnh. Thầy Ma Ha Ca Diếp là người chủ trì lần kiết tập Kinh điển thứ nhất tại thành Vương xá, với sự tham gia của 500 vị A La Hán.
Ma Ha Ca Chiên Diên, ( 摩訶迦旃延Mahakatyayana ). Thầy Ma Ha Ca Chiên Diên   nổi tiếng về luận nghị, lý luận của thầy rất vững chãi và đanh thép.
Ma Ha Câu Hy La, ( 摩訶俱絺羅Mahakausthila ). Thầy Ma Ha Câu Hy La nổi tiếng về tài đối đáp trong thuyết pháp
Ly Bà Đà, ( 離婆多Revata ). Thầy Ly Bà Đà chứng đắc giải thoát không còn bị dính mắc vào thiện và ác.
Châu Lợi Bàn Đà Già, ( 周利槃陀伽Suddhipanthaka). Thầy Châu Lợi Bàn Đà Già, khi mới xuất gia đầu óc tăm tối, trong bốn tháng cũng không thuộc được bài kệ:. Sau này nhờ Phật dạy, thầy đã  chứng quả A-la-hán  nắm rõ được kinh Phật.
Nan Đà, (難陀Nanda), Thầy Nan Đà là em  trai của Đức Phật,
A Nan Đà, (阿難陀Ananda ), thầy A Nan Đà em họ của Đức Phật, là thị giả có trí nhớ siêu phàm.
La Hầu La, ( 羅侯羅Rahula), thầy La Hầu La  là con của Đức Phật
Kiều Phạm Ba Đề, ( 憍梵波提Gavampati), thầy Kiều Phạm Ba Đề có tướng mạo xấu, do trong đời quá khứ, lúc Ngài làm sa di, nhân thấy một vị lão tăng không răng niệm Phật, tụng kinh, liền cười ghẹo là trông giống như trâu đang nhai
cỏ. Sau này Ngài tuy xuất gia chứng quả, dư báo vẫn chưa hết, miệng luôn nhai nhóp
nhép.
Tân Đầu Lô Phả La Đọa, (賓頭盧頗羅墮Pindolabharadvaja), thầy Tân Đầu Lô Phả La Đọa vốn là đại thần của vua Ưu Điền nước Câu Diễm Di.
Ca Lư Đà Di, ( 迦留陀夷Kalodayin ). Thầy Ca Lư Đà Di có thân hình thô đen, nhưng thường tỏa ánh sáng chiếu sáng trong đêm tối. Đó là do quả báo thuở xưa để mình trần thắp đèn trước tượng Phật mà ra. Thầy nối tiếng, nên được xưng tụng là bậc Giáo Hóa đệ nhất.
Ma Ha Kiếp Tân Na, ( 摩訶劫賓那Mahakapphina).  Thầy Ma Ha Kiếp Tân Na cũng thông hiểu thiên văn bậc nhất nên được xưng tụng là bậc Tri Tinh Tú đệ nhất.
Bạt Câu La ( 薄拘羅Vakula,) . Thầy薄拘羅là bậc thiểu dục tri túc, thân không bao giờ khoác y dày. Thầy có vẻ  mặt nghiêm túc, đoan chánh
A Nậu Lâu Đà, ( 阿那樓馱tiếng phạn là Aniruddha). Thầy A Nậu Lâu Đà là em họ của Phật, bị mù cả hai mắt. Thầy chứng đắc Thiên Nhãn Thông; thấy rõ cả 3 cõi.
Như thị đẳng đại đệ tử, ( 如是等諸大弟子), dịch nghĩa những đệ tử lớn của Phật.
Tinh ( ), dịch là Cùng nhau, bao gồm.
Chö ( ), dịch là cùng với, các, mọi.
Tinh chư ( ) , dịch là cùng với.
Boà Taùt ( 菩薩) , Bồ Tát là một người tỉnh thức. Bồ Tát từ chữ Boddhisatava mà ra, có nghĩa là con người tỉnh thức và đang giúp người khác tỉnh thức. B Tát Ma Ha Tát ( 菩薩摩訶薩) dịch là các vị đại bồ tát.
Văn Thù Sư Lợi  Phaùp vöông töû ( 文殊師利法王子). Thầy  là con thứ ba của vua Vô Tránh Nhiệm có tên là Thái tử Vương Chúng. Ngài cúng dường Phật Bảo Tạng và phát nguyện độ sanh nên được hiệu là Văn Thù Sư Lợi.  Bồ tát Văn Thù Sư Lợi xuất hiện hầu như trong tất cả các kinh điển quan trọng của Phật giáo Đại thừa: Hoa Nghiêm, Thủ Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Duy Ma Cật…như là một nhân vật thân cận nhất của Đức Phật Thích Ca.
Döõ nhö thò (與如是), dịch   cùng đều như vậy.
Đaúng chö (等諸), dịch cùng hàng, cùng thứ bậc.
Đaïi Bo àTaùt (大菩薩 ) dịch Bồ tát lớn
Caäp () dịch đều, như
Voâ löôïng ( 無量), dịch rất nhiều

Chö thieân ñaïi chuùng caâu (諸天大眾俱), dịch các vị đại chúng nhà trời.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

法句經, 比丘品, 三七七偈

Community development Phát triển đại chúng.

法句經, 波羅門品, 三八六偈